Đường dẫn truy cập

Đọc ‘Tuyển Tập Chân Dung VHNT & Văn Hóa’ của Ngô Thế Vinh (2)


Hình bìa tác phẩm 'Tuyển Tập Chân Dung VHNT & Văn Hóa’ của Ngô Thế Vinh.

Phạm Phú Minh

(Tiếp theo và hết)


Tác giả Ngô Thế Vinh là một bác sĩ, tốt nghiệp trường Y Khoa Sài Gòn năm 1968. “Thế giới Y khoa” có thể nói là môi trường hoạt động chính của anh, từ khi bước vào trường thuốc cho đến ngày nay. Mặc dù Ngô Thế Vinh nổi tiếng về nhiều tác phẩm không dính gì tới thuốc men, về các hoạt động không trực tiếp về sức khỏe của con người, nhưng tôi có cảm tưởng tâm hồn anh không bao giờ rời xa những năm học tập ở Đại học Y Khoa Sài Gòn, với những vị thầy khả kính từ học vấn uyên thâm lẫn nhân cách, với biết bao bạn bè đồng tâm đồng chí với mình từ khi còn đi học cho đến quãng đời về sau cọ xát với nhiều gian lao khổ ải, kể cả bỏ mình nơi chiến trận hoặc vào trải tù cải tạo cộng sản sau khi miền Nam thất thủ.

Muốn hiểu nỗi niềm đó của Ngô Thế Vinh thì cần phải đọc bài anh viết về Giáo sư Phạm Biểu Tâm, một Giáo sư ở vị trí lãnh đạo lâu năm nền giáo dục Y khoa của miền Nam, đã trở thành kết tinh cao nhất của cả một thế giới vừa nội tâm vừa ngoại cảnh suốt đời nơi một người học trò.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm thì ai cũng biết là người Huế, nhưng ít ai biết ông là người gốc miền Nam của Việt Nam. Đây là một phát giác thú vị, vì đi ngược với khuynh hướng di dân chung của dân tộc Việt Nam là từ Bắc vào Nam. Đi ngược lại thì phần nhiều là đi làm quan tại miền Trung hay miền Bắc, như trường hợp họ Nguyễn Tường từ Quảng Nam ra lập nghiệp tại Hải Dương, để con cháu ba đời sau đã tạo nên một sự nghiệp lớn lao là Tự Lực Văn Đoàn và báo Phong Hóa Ngày Nay; và trường hợp ông cố của Gs Phạm Biểu Tâm từ Gò Công ra Huế làm quan thời Gia Long và gia đình định cư luôn tại đó. Nhưng riêng Gs Phạm Biểu Tâm lại đi thêm một bước nữa là ra Hà Nội học Y Khoa từ năm 1932 và từ năm 1948 trúng tuyển kỳ thi Thạc Sĩ Y Khoa [Professeur Agrégé des Universités] tại Paris, tiếp tục giảng dạy tại Đại học Y Khoa Hà Nội kiêm Giám đốc bệnh viện Phủ Doãn, cho đến cuộc di cư 1954 mới về lại đất cũ gốc gác miền Nam của mình từ bốn đời trước. Những cuộc “di cư ngược” từ bản chất là những người có khả năng được triều đình bổ dụng làm việc hoặc ở kinh đô Huế, hoặc ra hẳn miền Bắc xa xôi. Đó là những tinh hoa đã lộ ra từ miền đất mới mẻ phía Nam, họ đi làm việc triều đình nhưng dần dà đã định cư tại nơi làm việc, và đã để lại những hoa trái thật quý giá cho cả Việt Nam trên mảnh đất cũ của tổ tiên bao đời trước mà họ có cơ hội quay lại.

Năm 1954, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã cùng gia đình di cư vào Nam, được đề cử làm Giám Đốc Bệnh Viện Bình Dân mới xây cất xong trên đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, đồng thời cũng là Trưởng Khu Ngoại Khoa tại bệnh Viện này. (...) Đây cũng là một bệnh viện giảng huấn trực thuộc trường Đại Học Y Nha Dược duy nhất của Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ.

Khi Đại Học Hỗn Hợp Pháp Việt được người Pháp trao trả lại cho Việt Nam [11.05.1955], Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm được đề cử làm Khoa Trưởng, và là vị Khoa Trưởng đầu tiên của Trường Đại Học Y Dược Sài Gòn [Faculté Mixte de Médecine et Pharmacie].

Năm 1962, Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ / American Medical Association [AMA] đã viện trợ một ngân khoản lớn cho Việt Nam để xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa với tiêu chuẩn hiện đại tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn, gồm một Trường Y Khoa [giai đoạn I] và một Bệnh Viện thực tập [giai đoạn II]. Lễ đặt viên đá đầu tiên do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ tọa.

Sau biến cố 1963, Gs Phạm Biểu Tâm tiếp tục ở lại với Trường Y Khoa cho đến tháng 3 năm 1967, khi tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương đã đơn phương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Khoa Trưởng của Gs Phạm Biểu Tâm để thay thế bằng một Uỷ ban 5 người, đây cũng là lần đầu tiên ở miền Nam chính trị can thiệp vào nền tự trị đại học.

Với một ông Thầy gắn bó với chức vụ cao nhất của trường Y Khoa trong một thời gian lâu như thế, sinh viên rồi Bác sĩ Ngô Thế Vinh khi nhắc tới vị giáo sư đáng kính này là như sống lại cả một quãng đời từ khi bước vào trường Y cho tới ngày hôm nay. Ảnh hưởng của một người Thầy đúng nghĩa trong đời là như thế. Như một người cha tinh thần suốt đời của mình.

Sau 1975 thầy ở lại Sài Gòn tiếp tục giảng dạy Y khoa, trò đi vào tù cải tạo, may mắn là thầy trò cuối cùng lại được gặp nhau trên đất Mỹ.

Trong cảnh tha hương, cảm động và mừng tủi biết bao nhiêu khi được gặp lại Thầy, trên một lục địa mới ở một nơi xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất. Được cầm bàn tay ấm áp và mềm mại của thầy Tâm trong bàn tay mình, rồi như từ trong tiềm thức của một hướng đạo sinh ngày nào, tôi siết nhẹ bàn tay trái của Thầy và chỉ có thể nói với Thầy một câu thật bâng khuâng “…đôi bàn tay này Thầy đã cứu sống biết nhiêu người.” “Có gì đâu Vinh.” Thầy xúc động và nghẹn ngào...

Như một câu chuyện có hậu. Nhưng tình tiết để dẫn đến cái “hậu” đó thì phong phú lắm, cần phải đọc hết bài này mới có thể thấy hết được. Tôi gọi đó là “Thế giới Y Khoa” của Ngô Thế Vinh.


*


Hoàng Ngọc Biên là một loại chân dung đặc biệt đáng được giới thiệu, vì nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lẫn dịch thuật văn học, họa sĩ lẫn nhạc sĩ này vốn riêng được giới văn nghệ biết đến và quý mến, nhưng các đặc sắc của anh lại ít được quần chúng biết và chú ý.

Nhưng bài viết của Ngô Thế Vinh về Hoàng Ngọc Biên là một tài liệu có thể nói rất đầy đủ và phong phú về một con người đã đem lại cho nền văn học Việt Nam, ít nhất trong khung cảnh miền Nam trước 1975, nhiều mới lạ.

Trong khung cảnh cuộc chiến tranh Việt Nam ngày một leo thang với sự xâm nhập ngày càng lớn những binh đoàn từ miền Bắc, rồi đến cuộc đổ bộ của quân đội Mỹ, sự tuyên truyền rất hữu hiệu của phe cộng sản trên thế giới về hành động “xâm lược” của Mỹ tạo nên phong trào phản chiến rất mạnh trên đất Mỹ và khắp các nước Tây phương, một số trí thức Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng của cuộc diện ấy. Chính Võ Phiến nhớ lại hình ảnh của Hoàng Ngọc Biên thời ấy:

"Anh Biên thì khuynh tả, khoái Che Guevara; chính anh thì râu ria tóc tai dài phủ tới ót”. Và Hoàng Ngọc Biên đã ở trong nhóm sáng lập tờ báo Trình Bầy, thở một hơi thở chung của khuynh hướng tả phái tại nhiều nơi trên thế giới. Cái ảo tưởng muốn người Việt Nam tự mình tìm hướng đi riêng trong cuộc đụng độ giữa hai thế lực lớn trên thế giới là tự do và cộng sản chính cũng là một loại lý tưởng của thời ấy, và lý tưởng nào thì cũng bắt nguồn từ thiện ý và từ hoàn cảnh đang có. Đó là lý do tờ Trình Bầy trong đời sống ngắn ngủi hai năm của nó, đã thu hút khá nhiều cây bút đủ mọi khuynh hướng của miền Nam. Và đó cũng là sự vỡ mộng của những người khuynh tả của miền Nam sau khi phe cộng sản thắng trận: tả hay hữu gì của thế giới tự do đối với cộng sản cũng đều là phản động tuốt, cũng có thể là những màn trá hình của CIA cả. Ngay cả trong nhiều trường hợp người cộng sản rất hiểu bản chất lý tưởng của những người thiên tả này họ cũng không dung nạp vì họ biết đó là những con người tự do, rồi ra sẽ làm rối hàng ngũ rất chỉnh đốn của họ. Người cộng sản làm cách mạng đâu có phải để đi cưu mang những con người lãng mạn? Họ đã triệt để lợi dụng thành phần này cho cuộc đấu tranh của họ, nhưng khi “bao nhiêu lợi quyền đã qua tay mình” thì tại sao họ lại đi ôm rơm cho nặng bụng? Tốt hơn hơn hết là quẳng đi những cái vỏ sau khi đã vắt kiệt hết nước.

Ngô Thế Vinh đã viết rất chính xác :

“Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây sự giác ngộ của cả những khuôn mặt trí thức lớn thiên tả Pháp như Jean Paul Sartre đối với cộng sản Việt Nam sau 1975, khi có xảy ra thảm trạng "boat people" trên Biển Đông; chính J.P. Sartre đã trở thành một "activist" vận động hiệu quả cho "Một con tàu cho Việt Nam/ Un bateau pour le Vietnam" đi cứu vớt các thuyền nhân. Kinh nghiệm với cộng sản Việt Nam cho đến nay vẫn là một bài học/ a lesson to learn cho thế giới.”

Vậy chính sự vỡ mộng với cộng sản cũng đóng góp một vốn sống, một kinh nghiệm quý cho đời.

Nhưng hãy quên đi những nét thời sự tả hữu của thời mịt mù khói lửa ấy để chỉ nhìn vào các hoạt động văn học và nghệ thuật của HoàngNgọc Biên, thì sẽ thấy đây mới là những công việc “vượt thời gian và không gian” của anh : nghiên cứu về tiểu thuyết mới, tự mình thể nghiệm sáng tác và dịch thuật các tác phẩm theo khuynh hướng mới, làm thơ, vẽ tranh, làm nhạc, trình bày sách báo... với tất cả tài hoa và sự say mê đi tìm cái mới của mình, như nhận xét của Ngô Thế Vinh:

Chính Hoàng Ngọc Biên, cả ở những năm về sau này, qua những sáng tác mới anh vẫn cứ bền bỉ và kiên trì đi trên con đường tiểu thuyết mới mà anh đã chọn. Truyện của Biên kén độc giả, Hoàng Ngọc Biên không phải là tác giả của đám đông nên tên tuổi của anh cũng ít được biết tới.

Điều đáng quý trọng của Hoàng Ngọc Biên chính là tinh thần không bao giờ thỏa mãn với cái đang có.

Với Hoàng Ngọc Biên, một tác phẩm được công bố không bao giờ nên được nhìn như một sự hoàn chỉnh, suốt đời Biên luôn luôn là một cuộc hành trình đi tìm cái mới.

Chính tinh thần đó mới là tiền đề của tất cả sự sáng tạo và tiến tới cho cuộc sống của một xã hội.


*


Trong cuốn sách này Ngô Thế Vinh xây dựng chân dung của từng nhân vật với hai tư thế: một, với sự khách quan của một người nghiên cứu; và hai, với lợi thế to lớn của chủ quan, vì nhân vật được nói đến luôn luôn là một người bạn của mình.

Hai yếu tố đó hòa quyện lẫn nhau tạo nên một lợi thế đặc biệt cho người viết, vì thật ra khách quan và chủ quan chỉ là hai cách nhìn của một chủ thể, người cầm bút. Anh ta phải nhờ đến tài liệu để tạo nên bức chân dung trung thực: quê quán ở đâu, sinh năm nào, học lực thế nào, khuynh hướng ra sao... Rồi khi đụng đến tác phẩm của người ấy thì sự khách quan bắt đầu lung lay: sự thưởng thức nào lại chẳng có phần chủ quan trong đó, thậm chí là phần lớn. Đây là một tiểu thuyết của bạn mình, mà mình thì quá rõ tính tình, khả năng, sở thích, cuộc sống của người ấy thì những dòng chữ viết ra kia dễ đi thẳng vào cảm nhận của mình rồi. Hoặc nét tài hoa của một bức tranh mà bạn mình chia sẻ với mình từng cảm xúc khi sáng tác thì dĩ nhiên mình có thể hãnh diện nói mình “hiểu” nó, “cảm” nó hơn là người bàng quan, cái đó là dĩ nhiên.

Ở Ngô Thế Vinh chúng ta thấy được sức mạnh nội công ngoại kích ấy. Đó là một người bạn rất chân tình và cũng là người có khả năng tìm hiểu nghiên cứu sâu rộng và khách quan. Với tình bạn, anh có thể tiếp cận và tìm hiểu những người bạn của mình dễ dàng hơn là các tác giả xa lạ. Với tình bạn anh có thể biết tính tình cùng những khía cạnh tình cảm ẩn kín, những nỗi niềm riêng tư của bạn mình, những cái có thể soi sáng tác phẩm hay giải thích một khuynh hướng của người mình nghiên cứu. Trong khi đó thì con người nghiên cứu khách quan của Ngô Thế Vinh vẫn tiếp tục công việc với những nguyên tắc nghiêm nhặt mà anh đã tự đặt ra cho mình từ lâu. Tìm hiểu một con người anh luôn luôn đặt con người ấy vào môi trường lịch sử mà người ấy đã sống, công việc mà người ấy đã làm, quan hệ xã hội đã và đang có.

Một con người nhiều tính chất “huyền thoại” như Như Phong Lê Văn Tiến, dưới ngòi bút của Ngô Thế Vinh đã hiện ra như một con người thực hơn, cụ thể hơn nhưng cùng lúc chất huyền thoại có thể dày đặc hơn. Ngô Thế Vinh đã trình bày một cách rõ ràng tiểu sử của Như Phong như là một con người cụ thể, khi Như Phong làm báo Tự Do thì “lý lịch” của tờ báo này cũng được trình bày chi li từng giai đoạn; cho đến vai trò “mưu sĩ” của Như Phong giữa thập niên 1960 với khả năng đứng trong hậu trường sắp xếp các vai trò sân khấu chính trị như sắp xếp các quân cờ trên một bàn cờ; rồi đến 1975 trước khi miền Nam mất vào tay cộng sản thì Như Phong với kiến thức sâu rộng về cộng sản luôn luôn thúc dục bạn bè di tản ra nước ngoài nhưng riêng mình thì chọn ở lại để nếm thử thách với nhà tù cộng sản hàng chục năm... Ngô Thế Vinh đã sưu tầm hầu như không sót một khía cạnh nào của cuộc đời Như Phong như những dấu tích cụ thể, nhưng đồng thời cũng phủ dày thêm mảng sương mù huyền thoại quanh con người mang một đời sống tinh thần siêu việt hiếm có này.


*


Trong phần giới thiệu Võ Phiến, một nhà văn quan trọng của miền Nam trước 1975, tôi chú ý nhất đến đoạn Ngô Thế Vinh thẩm định về bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến.

Cho đến khi bộ Văn Học Miền Nam ra đời, chúng ta mới biết được rằng sự nghiệp văn học của miền Nam từ 1954 đến 1975 thật là quan trọng và đồ sộ, nhưng vẫn thiếu một cây bút phê bình đích thực, bao quát hết giá trị văn học trong hai thập niên của một quốc gia. Có lẽ vì nền văn học nghệ thuật ấy còn đang trẻ quá, sung sức quá, khiến cả xã hội chưa thấy có nhu cầu tổng kết cho nên chưa nảy ra một tài năng để đánh giá một cách bao quát. Giống như một người khi tương đối còn trẻ đầy sinh lực thì người ấy muốn dùng sinh lực của mình để sáng tạo chứ chưa thấy có nhu cầu... viết hồi ký, tức là nhìn lại để thẩm định chính mình. Nhưng rồi kẻ ấy bị bức tử trong tuổi thanh xuân đang phơi phới, không những thế bao nhiêu sự nghiệp tinh thần ngồn ngộn phong phú bị kẻ chiếm đoạt làm mồi cho lửa hết, đốt sạch, tận diệt trong một cơn hả hê thú vật.

Và sau đó thì sao nữa? Giới cầm bút, cầm cọ, ôm đàn..., nói chung người của văn học nghệ thuật và văn hóa, ai chạy thoát thì tán loạn khắp thế giới, kẻ còn lại thì bị gom hết vào tù. Rồi sao nữa? Hơi hoàn hồn lại thì có người nghĩ tới việc cần làm một cái gì đó để lưu giữ được chừng nào hay chừng đó cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ của hai mươi năm của một quốc gia non trẻ. Hai tay trắng đứng giữa một xứ sở xa lạ, bắt đầu từ đâu? với vốn liếng nào?

Nhưng bao giờ cũng thế, tất cả phải bắt đầu từ một tư tưởng, một ý nghĩ. Không có cái thao thức đầu tiên ấy thì rốt cuộc cũng chẳng gì xảy ra. Và cái sự nghiệp lớn lao kia của miền Nam sẽ dần dần tan biến, bị quên lãng trong cuộc sống luôn luôn lao về phía trước. Cái tia chớp trong đầu của một cá nhân đó, rồi ra sẽ là một cái gì đó rất vĩ đại, thành một công ơn lớn đối với di sản tinh thần của một dân tộc. “Bên thắng cuộc” ra tay đốt, cấm đoán, lên án, cầm tù..., mọi việc công khai rõ rệt dưới ánh mặt trời giữa một miền Nam sau ngày 30 tháng Tư 1975. Cả dân tộc biết. Cả thế giới biết. Nhưng từ một ánh chớp trong đầu một cá nhân đơn độc lại có khả năng gầy dựng lại, từ một viên gạch, rồi hai viên gạch, một hàng gạch, dần dần thành hình hàng lối. Ý tưởng được chia sẻ, các thiện chí hưởng ứng, góp tay vào tìm kiếm sách vở tài liệu. Dần dần thành một kiến trúc: bộ Văn Học Miền Nam đã thành hình sau 15 năm miệt mài.

Dù có một số lời chê bai từ nhiều động lực khác nhau, cái công trình đó vẫn là nền tảng cực kỳ cần thiết và quý giá làm căn bản để tìm lại một thiên đàng đã mất là nền văn học của nước Việt Nam Cộng Hòa trong hai mươi năm hiện diện cuả nó. Công trình đó chỉ do MỘT người chấp bút: Võ Phiến.

Trong bài viết về Võ Phiến trong sách này, Ngô Thế Vinh đã nhận xét một cách khách quan:

“Người ta đã nặng lời trách ông về những phần thiếu sót trong bộ sách ấy: như khi ông đã gạt một số tên tuổi văn học của thời kỳ 1954-75 ra khỏi bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan, rồi cả cách ông phê bình các nhà văn, nhà thơ được ông chọn đưa vào sách cũng bị ông sử dụng cái sở trường văn phong tuỳ bút / nay thành sở đoản để châm biếm mỉa mai cá nhân với nhiều định kiến thiên lệch.

Nhà văn Mặc Đỗ nhóm Quan Điểm thì thật sự bất bình, Mai Thảo nhóm Sáng Tạo trong lần trò chuyện cuối cùng với Thuỵ Khuê 07/ 1997 cũng không kềm được cảm xúc nói tới bọn vua Lê chúa Trịnh’, và nói thẳng: ‘Võ Phiến cũng có chỗ được chỗ không được. Đại khái như phê bình văn học, đối với tôi thì không được. Văn Học Miền Nam tổng quan đó thì không được. Thơ dở. Tạp văn hay’.

“Biết thiếu sót, biết trước có những hạn chế nhưng chính Võ Phiến, trái với bản chất thâm trầm và thận trọng cố hữu, Võ Phiến vẫn liều lĩnh - như một "risk taker", ẩn nhẫn làm một công việc tốn rất nhiều công sức và cả nhiều rủi ro như thế. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, trong suốt hơn 15 năm từng bước hoàn thành công trình Văn Học Miền Nam với hơn ba ngàn trang sách ấy, Võ Phiến vẫn đang là một công chức sở Hưu bổng làm việc full time cho quận hạt Los Angeles, như vậy là ông đã phải làm việc ngoài giờ và những ngày cuối tuần. Võ Phiến về hưu tháng 7 năm 1994, ông tiếp tục viết thêm 5 năm nữa để hoàn tất toàn bộ Văn Học Miền Nam 1999. Nếu không có hùng tâm, với công sức của một cá nhân khó có thể làm được như vậy.”

Thiết tưởng Ngô Thế Vinh đã có cái nhìn công bình với công trình lớn lao này của Võ Phiến vậy.


*


Kết thúc bài điểm sách này ở đây, theo tôi, là quá sớm; nhưng nếu tiếp tục, lại quá trễ.

Hầu như chương nào của cuốn sách (mỗi chương đề cập đến một nhân vật) cũng đầy lôi cuốn: thông tin về tiểu sử, về cuộc sống của nhân vật ấy rất đầy đủ và linh động; thông tin về hoạt động văn học nghệ thuật hay văn hóa của người đó lại càng phong phú với rất nhiều tài liệu liên hệ được chọn lọc kỹ càng; rồi những kỷ niệm của tác giả với nhân vật trong quan hệ đôi khi rất chằng chịt giữa bạn bè lại càng tô đậm những nét quyến rũ của những loại tài liệu riêng tư chỉ mình tác giả có...

Nhưng trong công việc giới thiệu một cuốn sách, việc trích dẫn từng chương chỉ là đưa ra những thí dụ để minh chứng cho các nhận xét chung của mình. Dù có tiếc, có muốn tiếp tục giới thiệu các chương rất hay còn lại cũng không nên, vì độc giả mới là kẻ ưu tiên được quyền khám phá hết toàn diện tác phẩm, xin dành cho độc giả việc khám phá những mảnh đất chưa một người nào đặt chân tới. Vâng, chúng tôi xin giữ lại những vùng còn rộng mênh mông đầy quyến rũ ấy cho quý vị.

Chúng ta đang có trong tay một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng đồng thời cũng là một cuốn truyện kể đầy nghệ thuật. Loại viết này tôi cho là rất mới, nó giới thiệu cho chúng ta những khuôn mặt, hay nói như tác giả, những chân dung --với hình ảnh rõ rệt và chi tiết toàn diện về nhân vật ấy. Dù không hẳn là một tác phẩm phê bình văn học nghệ thuật, nhưng tác phẩm này giúp chúng ta nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, dĩ nhiên chủ yếu là chân dung tinh thần.

Chân dung ấy chỉ có được bởi một người rất thiết tha với văn học, nghệ thuật và văn hóa của xứ sở, dùng kiến thức giàu có và kinh nghiệm sống của chính mình để tạo nên. Trước đây năm sáu mươi năm Nguyễn Mạnh Côn đã viết cuốn “Đem tâm tình viết lịch sử” thì với cuốn sách này, tôi xin gọi tác giả Ngô Thế Vinh là người đem tâm tình viết nên một mảng văn học nghệ thuật và văn hóa của miền Nam trước năm 1975. Chỉ qua một số nhân vật, nhưng như đã nói ở một đoạn trên, những cái bóng của họ đã phủ một khoảng rộng trong không gian miền Nam thời ấy, góp phần khá lớn vào việc tạo dựng lại đặc tính của một nền sáng tạo tự do, mà cho đến bây giờ người dân Việt Nam khi nhớ lại hãy còn ao ước.

Xin trích lại một câu thâm trầm trong cuốn sách này để thay lời kết:

“Thời gian đã mất, nhưng rồi qua ký ức trí tuệ của Proust thời gian tìm thấy lại, và đã trở thành thời gian bất tử.”


28.8.2017

Diễn đàn Facebook

XS
SM
MD
LG