Đường dẫn truy cập

Hội Chứng Rát Miệng (Burning Mouth Syndrome, BMS), hay Bịnh đau lưỡi (glossodynia)


Thính giả Hong A hỏi:

Thưa Bác sĩ,

Tôi thường bị rát lưỡi từ 4 năm nay. Tôi ăn uống thì bình thường không rát; không ăn uống thì rát. Ăn cay hay mặn cũng không rát mà có cảm giác ngon miệng.

Vậy tôi xin hỏi Bác sĩ nguyên nhân nào, hay thiếu chất gì.

Cảm ơn Bác sĩ”

Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:

Hội Chứng Rát Miệng (Burning Mouth Syndrome, BMS), hay Bịnh đau lưỡi (glossodynia)
please wait

No media source currently available

0:00 0:17:14 0:00
Đường dẫn trực tiếp

Có nhiều bịnh có thể gây rát, đau lưỡi, những nguyên nhân dễ phát hiện nhất như loét lưỡi, bịnh nấm ở lưỡi, ung thư ở lưỡi được cần được bác sĩ nghĩ tới và thu thập đủ dữ kiện (như hỏi bịnh sử, ví dụ người hút thuốc lá hay không; khám thấy có tổn thương gì trên niêm mạc miệng hay không, làm sinh thiết/biopsy nếu khả nghi) để xác nhận hay loại bỏ các chẩn đoán này.

Tất nhiên, tôi không thể định bịnh hay tư vấn cho một bịnh nhân cá biệt được, và cũng như mọi khi, lúc quý vị thính giả đưa ra một trường hợp như bịnh này, chúng ta chỉ có thể xem đây như là một cơ hội để chúng ta học hỏi thêm về một số tin tức trong y văn hiện nay, có thể có mà cũng có thể không liên hệ trực tiếp đến trường hợp chúng ta đang bàn.

Sau đây tôi xin bàn về Hội chứng Rát Miệng (Burning Mouth Syndrome, BMS), hay còn gọi là Bịnh “đau lưỡi” (glossodynia, glossa=lưỡi, odyna=đau).

Đại đa số bịnh nhân là nữ (tỷ lệ 7/1 cho đến 31/1), đa số ở người phụ nữ đã tắt kinh, và có những triệu chứng khác của thời sau khi nghỉ kinh (postmenopausal). Phụ nữ gốc Á châu cũng như người Da Đỏ dễ mắc chứng này hơn.

Triệu chứng:

1) Vị trí: đau ở 2 bên lưỡi; ít gặp hơn: ở vòm miệng, môi hoặc nướu răng hàm dưới

2) Đau mạn tính (chronic pain).

3) Đau theo lối rát, như bị phỏng (burning pain), hay tê tê, thấy rần như kiến bò (tingling). Nhiều khi chỉ mơ hồ là khó chịu, ê đau, không đau rõ rệt.

4) Triệu chứng đi kèm: cảm thấy khô miệng; khẩu vị, vị giác có thể thay đổi (dysgeusia); vd đắng lưỡi, vị kim loại (tanh/metallic taste); nhạy cảm quá đáng với những vị khác nhau; đau lưng mạn tính; ruột quá nhạy cảm dễ đau bụng đi cầu xong lại khỏi (irritable bowel syndrome, IBS); bụng sình hơi; cảm giác nuốt nghẹn (globus pharyngeus); đau bụng lúc có kinh (dysmenorrhea); cảm giác lo lắng (anxiety); ăn không ngon; trầm cảm (depression); rối loạn cá tính (personality disorders).

5) Thời điểm:

Ba loại đau:

  • Loại 1: sáng dậy không đau, đau xuất hiện, xong từ từ tăng dần, đau nhất buổi tối lúc giờ đi ngủ nên rất khó ngủ, làm mệt mỏi, lo lắng (nguyên nhân thường gặp là bịnh tiểu đường)
  • Loại 2: đau lúc mới thức dậy và đau suốt ngày (thường gặp nhất) (thường do chứng lo âu)
  • Loại 3: không theo thứ tự nhất định; khi đau khi không, nên để ý tới dị ứng thức ăn.

6) Những tình huống làm bịnh nặng hơn hoặc giảm bớt:

a) Thần kinh căng thẳng, mệt, nói nhiều, thức ăn cay, nhiều gia vị.

b) Ít đau hơn lúc ăn uống. Nên để ý, trong bịnh đau miệng do lở miệng, đau răng, đau hàm, người bịnh càng đau hơn lúc ăn uống; nếu đau rát miệng mà ăn uống lại bớt đau, thì đây là một dấu chỉ đặc biệt của “hội chứng rát miệng”.

Có thể bớt đau nhờ uống thuốc hoặc thoa thuốc tê vào chỗ đau.

7) Cường độ đau: cở trên trung bình (5-8/10), tương tự như đau răng.

8) Có thể làm mất ngủ, nhưng có thể không ảnh hưởng giấc ngủ.

9) Bịnh nhân từng được nhiều bác sĩ khám và chữa nhưng không có kết quả rõ rệt.

Nguyên nhân:

Theo định nghĩa của BMS, chúng ta chưa hiểu rõ nguyên nhân chứng này, và chỉ định bịnh BMS sau khi loại bỏ những nguyên nhân có cơ sở thể chất cụ thể hơn (như loét do ung thư, đau răng, đau khớp thái dương-hàm dưới (temporomandibular joint, TMJ), viêm dây thần kinh do thiếu vitamin B, folic acid, Fe, zinc; do siêu vi [herpes virus]); suy cơ năng tuyến giáp (hypothyroidism); bịnh tiểu đường (diabetes type 2); dị ứng với thuốc, thức ăn, kim loại trong răng; thuốc hạ áp huyết loại ACE inhibitor (vd lisinopril); bịnh do răng giả (denture) gây khó chịu .

Những giả thuyết giải thích BMS:

-Những khảo cứu gần đây cho rằng BMS do rối loạn cơ năng các dây thần kinh sọ V, VII, IX phụ trách về vị giác ( cranial nerves V, VII, IX)(neuropathic pain)

- Người mãn kinh thiếu hormone estrogen và progesterone

- Hiện tượng tự miễn nhiễm (autoimmune), do cơ thể sinh ra những kháng thể chống lại chính mình ( những kháng thể chống nhân (ANA) hay yếu tố phong thấp (rheumatoid factor/RF) có thể hiện diện trong máu trên 50% bịnh nhân; bịnh khô miệng do nước miếng bất bình thường)

- Bịnh trầm cảm, bịnh lo lắng có thể kèm theo. Bịnh BMS có thể là một biểu hiện của bịnh thần kinh tâm thể (psychosomatic manifestation, bịnh tâm lý biểu hiện bằng triệu chứng vật thể), chứng sợ ung thư, sợ bịnh phong tình, chứng "bịnh tưởng" (hypochondriasis).

- Một số bịnh nhân có thể có thói quen lấy lưỡi chạm vào răng, hay đẩy lên vòm miệng làm gây ra những chấn thương li ti cho lưỡi.

- Bịnh Parkinson có thể làm dây thần kinh nhạy với sự đau đớn hơn.

- Liên hệ tới một giai đoạn khó khăn, bị stress trong đời, thường là 3-12 năm sau khi tắt kinh.

Chữa trị:

1) Loại bỏ các khả năng bịnh đã kể ở trên gây ra triệu chứng khô, rát, đau lưỡi miệng.

2) Nếu không có bịnh đi đôi: bác sĩ cần giải thích cho bịnh nhân yên tâm; giảm lo lắng bịnh nhân, nhất là lo ung thư (cancerophobia), lo bịnh tính dục (sexually transmitted diseases);

3) Nếu cần thuốc an thần (benzodiazepine, vd clonazepam [Klonopin], chlordiazepoxide [Librium]), thuốc chống trầm cảm ba vòng ( tricyclic antidepressant), thuốc chữa trị co giật (anticonvulsivant, vd gabapentin [Neurontin], pregabalin (Lyrica) dùng với mục đích giảm cơn đau do dây thần kinh quá nhạy cảm gây ra.)

4) Capsaicin là một chất lấy từ ớt, có tác dụng làm giảm đau. Có những nghiên cứu cho thấy chất này có thể có ích trong chừng 1/3 các trường hợp. Tuy nhiên ở Mỹ không có thuốc chứa capsaicin để thoa trong miệng. Có nghiên cứu dùng viên capsaicin 0.25% trên 25 người bịnh so sánh với 25 người dùng placebo. Nhóm dùng capsaicin có giảm đau đáng kể nhưng lại bị biến chứng đau dạ dày vì thuốc (Petruzzi). Các khảo cứu còn giới hạn về châm cứu cũng cho thấy có ít kết quả.

5) Tránh thuốc súc miệng có chứa alcohol, kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate

tránh uống rượu, nước pH thấp (acid) như cà phê, nước cam, chanh.

6) Uống những ngụm nước thường xuyên cho miệng khỏi khô, mút nước đá, nhai kẹo cao su không có đường.

7) Các chất khoáng, vitamin: Vitamin B, Zinc, Folate, sắt (iron).

Alpha-lipoic acid (ALA) là một chất kháng oxy-hóa (antioxidant) được cơ thể chúng ta sản xuất; trong các thức ăn như gan, tim, broccoli có nhiều ALA. ALA được dùng ở châu Âu nhiều hơn ở Mỹ, như là một chất bổ sung (ALA supplement) trong các trường hợp tiểu đường type 2 (người lớn tuổi), viêm thần kinh do tiểu đường, bịnh HIV và giúp sụt cân cho người mập. Alpha-lipoic acid (ALA) được bán trên thị trường dưới dạng "bổ túc dinh dưỡng"(600mg/ngày trong một tháng) có thể có kết quả giới hạn, tuy nhiên chưa được xác nhận dứt khoát.

8) Có thể cần tâm lý trị liệu (psychotherapy), hành vi trị liệu pháp (biobehavioral techniques).

9) Nên đi khám nha sĩ. Nếu một nguyên nhân vật thể giải thích được chứng đau miệng (ví dụ đi khám răng và thấy răng gần đó hay khớp TMJ gần đó có thể giải thích được cơn đau ở lưỡi) thì những chứng trầm cảm lo lắng có thể được giải toả sau khi giải quyết được bịnh đau miệng/lưỡi.

Trong 2/3 trường hợp, bịnh BMS tự nhiên từ từ thuyên giảm, các cơn đau thưa thớt đi và bịnh nhân cuối cùng hết đau. Có thể kéo dài hằng tháng, hằng năm, nhiều năm.

Chúc bịnh nhân may mắn.

Reference:

1) Grushka M., Burning Mouth Syndrome. Am Fam Physician. 2002 Feb 15;65(4):615-621.

http://www.aafp.org/afp/2002/0215/p615.html

2) Wikipedia.org

Burning Mouth Syndrome

3) Danny Cheung and Nigel Trudgill

Managing a patient with burning mouth syndrome

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5369598/

4) Petruzzi M, Lauritano D, De Benedittis M, Baldoni M, Serpico R.

Systemic capsaicin for burning mouth syndrome: short-term results of a pilot study.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/14720197

5)Burning mouth syndrome: a systematic review of treatments.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28247977

6)Alpha-Lipoic Acid Useful in Treating Burning Mouth Syndrome

https://www.lexi.com/individuals/dentistry/newsletters.jsp?id=june_08

7) https://www.webmd.com/diet/alpha-lipoic-acid-ala#1

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Ngày 16 tháng 2 năm 2019

Quý vị có thể xem và nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ <vietnamese@voanews.com>.

Diễn đàn Facebook

XS
SM
MD
LG