Thứ năm, 02/04/2015
Xem

Blog / Nguyễn Hưng Quốc

Hoài nghi ngôn ngữ

Hoài nghi ngôn ngữ
Hoài nghi ngôn ngữ

Kết thúc bài “Tỏ tình với ngôn ngữ”, tôi viết: “Một cây bút có tài năng, ngược lại, sẽ là kẻ, một mặt, tận dụng được bản hợp đồng ngầm của ngôn ngữ, tận dụng bầu khí quyển văn hoá chung quanh ngôn ngữ, tận dụng cái lịch sử dằng dặc đằng sau mỗi chữ hay mỗi ẩn dụ để mở rộng chiều sâu cho sự diễn tả của mình, mặt khác, hắn lại thoát ra khỏi những khuôn sáo có sẵn, tạo được một phong cách mới không lẩn với ai khác. Có thể nói hắn là kẻ biển thủ thành công công quỹ văn hoá của xã hội để làm thành tài sản riêng của mình.”

Đó là nói chung. Còn người cầm bút hiện đại thì ở trong tình thế oái oăm hơn nữa: hắn vừa phải giành giật từng con chữ và từng biểu tượng trong tài sản tinh thần tập thể của xã hội để làm thành của riêng lại vừa ngay ngáy ngờ vực giá trị biểu hiện của những chữ và những biểu tượng đó.

Nếu ý hướng cách tân là một trong những đặc điểm lớn nhất của văn học hiện đại thì nội dung chủ yếu của ý hướng cách tân đó nằm ở mối quan tâm đặc biệt dành cho khía cạnh ngôn ngữ.

Trong khía cạnh ngôn ngữ, yếu tố được chú ý nhất không phải là loại ngôn ngữ (Latin/Pháp; Hán/Nôm; văn ngôn/bạch thoại...) hay cách sử dụng ngôn ngữ qua những biện pháp tu từ khác nhau (ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ...) mà là chính bản chất của ngôn ngữ. Trong cái gọi là bản chất ngôn ngữ, vấn đề trung tâm được đặt ra là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hiện thực.

Nói một cách vắn tắt, ngày xưa, suốt cả mấy ngàn năm, người ta làm thơ viết văn trong niềm an tâm tuyệt đối dành cho cái phương tiện họ sử dụng. Không ai hoài nghi ngôn ngữ. Người ta tin là, thứ nhất, ngôn ngữ lúc nào cũng hoàn hảo và giàu có vô cùng; thứ hai, ngôn ngữ có khả năng phản ánh chính xác những gì người ta muốn diễn tả; và thứ ba, như là hệ luận của hai niềm tin trên, nhiệm vụ căn bản của người cầm bút là trau dồi nội lực để có thể khai thác và sử dụng vốn ngôn ngữ có sẵn ấy hầu tạo được những tác phẩm xuất sắc.

Vào thời hiện đại, những niềm tin và những sự an tâm ấy hoàn toàn bị lung lay. Người ta viết, vẫn viết, nhưng lại không ngớt nghi ngờ khả năng thể hiện của ngôn ngữ. Cũng như một người lính đang lao vào trận mà lòng cứ phấp phỏng không biết những viên đạn khạc ra từ nòng súng của mình là đạn thật hay chỉ là đạn mã tử.

Vì thế, thử tưởng tượng một hình ảnh hài hước và bi thảm, hài hước một cách bi thảm: một người lính, giữa cảnh khói lửa dữ dội, thỉnh thoảng lại ngưng bắn, dừng lại, đưa nòng súng lên mũi ngửi, rồi loay hoay tìm nhặt những viên đạn rớt xung quanh, ngắm nghía, từ vẻ mặt và ánh mắt toát ra một niềm nghĩ ngợi rất lung, nhưng rồi, hắn lại vẫn tiếp tục xông tới phía trước, vẫn tiếp tục bắn, để một lúc sau, lại dừng lại và lại băn khoăn như cũ.

Cuộc chiến đấu giữa hắn và kẻ thù, đến một lúc nào đó, biến thành cuộc "chiến đấu" giữa hắn và khẩu súng hắn cầm. Hắn quan tâm đến nó, theo dõi nó, thử nghiệm hiệu năng của nó còn hơn là chú ý đến kẻ thù trước mặt. Với tôi, trong hình ảnh người cầm bút hiện đại cũng có cái gì tương tự. Thoạt đầu, hắn cầm bút với khát vọng bày tỏ một cái gì đó, nhưng cuối cùng, những gì hắn viết ra chủ yếu chỉ là cuộc đối thoại, hay thậm chí, đối đầu giữa hắn và cái phương tiện mà hắn sử dụng.

Hậu quả của cuộc đối thoại hay đối đầu ấy là bản thân công việc viết lách trở thành một vấn đề, hơn nữa, một ám ảnh, hơn thế nữa, một ám ảnh đầy day dứt.

Đã đành là từ khi văn học viết bắt đầu xuất hiện, có lẽ loài người đã biết băn khoăn suy nghĩ về cách viết. Nòng cốt của lý thuyết tự sự (narrative theory), thi pháp học (poetics) và tu từ học (rhetoric) đã được hình thành từ Socrates, Plato và đặc biệt từ Aristotle thời cổ đại Hy Lạp. Những tiền đề của quan điểm văn dĩ tải đạo và thi ngôn chí ở Trung Hoa đã manh nha từ thời Khổng Tử. Nhưng có lẽ, chưa bao giờ trong lịch sử văn học nhân loại, vấn đề cái viết (l'écriture / writing) lại trở thành một đề tài bức bối như nửa sau thế kỷ 20: sau khi cuốn Le Degré zéro de l'écriture của Roland Barthes xuất bản vào năm 1953 và nhất là sau khi cuốn De la grammatologie và cuốn L'Ecriture et la différence của Jacques Derrida được xuất bản vào năm 1967, vấn đề cái viết, vâng, chính bản thân cái viết hay việc viết, đã trở thành vấn đề trung tâm của các lý thuyết, từ lý thuyết văn học đến lý thuyết văn hoá, qua đó, tất cả mọi sinh hoạt văn hoá của nhân loại đều được nhìn như những-gì-được-viết, tức như một thứ văn bản, và mọi văn bản được nhìn như một liên văn bản với trùng trùng những ký hiệu khác nhau, ký hiệu này quy chiếu ký hiệu kia thành một chuỗi những sự bổ túc (supplements) vô tận khiến ý nghĩa cứ bị triển hạn mãi.

Một hậu quả khác của cuộc đối thoại hay đối đầu giữa người cầm bút và ngôn ngữ là công việc viết lách trở thành một cách trắc nghiệm những khả năng kết hợp và thể hiện của ngôn ngữ.

Ở khía cạnh này, có thể nói mỗi một trường phái sáng tác mới, trước hết, là một thử nghiệm mới để thăm dò những giới hạn của ngôn ngữ.

Nếu các nhà cổ điển, ở cả Tây phương lẫn Đông phương, đều tin cậy vào ngữ nghĩa và tận dụng yếu tố ngữ nghĩa để diễn đạt tư tưởng và cảm xúc của mình thì các nhà lãng mạn chủ nghĩa đã phát hiện, bên cạnh yếu tố ngữ nghĩa, trong ngôn ngữ còn một yếu tố khác nữa là yếu tố ngữ âm cũng rất đắc dụng trong việc diễn đạt, đặc biệt, diễn đạt cảm xúc. Thơ lãng mạn, do đó, nói chung nhiều nhạc tính hơn hẳn thơ cổ điển: so với thơ cổ điển, tần số xuất hiện của những từ lấp láy và những từ vần bằng trong thơ lãng mạn thường cao hơn hẳn.

Các nhà thơ tượng trưng, nói như Paul Verlaine, trong một câu thơ nổi tiếng, "De la musique avant toute chose", càng đẩy mạnh vai trò của yếu tố ngữ âm, xem nhạc tính là đặc điểm nổi bật nhất trong ngôn ngữ thơ, đóng vai trò chủ yếu trong chức năng truyền cảm và gợi cảm của thơ. Như thế, tuy giữa thơ lãng mạn và thơ tượng trưng có nhiều điểm khác nhau nhưng cả hai đều tập trung sự chú ý vào khía cạnh âm thanh của ngôn ngữ.

Đây cũng chính là điểm phân biệt họ và những người đến sau: các nhà thơ hiện đại và tiền phong chủ nghĩa, từ đa-đa đến siêu thực, từ vị lai (Futurism) đến duy hình (Imagism), những đứa con của nền văn hoá in ấn, đã khám phá ra ít nhất hai khía cạnh khác của ngôn ngữ:

Thứ nhất, ngôn ngữ không phải chỉ là cái để nghe bằng tai mà còn là, càng ngày càng chủ yếu là cái để đọc bằng mắt; do đó, yếu tố thị giác trở thành một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra ý nghĩa của ngôn ngữ; cũng do đó, trong sáng tác của họ, các nhà thơ đã sử dụng thật nhiều biện pháp tạo hình, từ cách chọn khổ chữ đến cách viết hoa hay viết thường từng chữ, thậm chí từng mẫu tự; từ khoảng trống giữa các chữ đến cách ngắt dòng; từ cách sử dụng các ký hiệu toán học đến cách cắt dán một số hình ảnh vào bài thơ.

Thứ hai, theo họ, trật tự duy lý trong ngôn ngữ của các nhà cổ điển, hiện thực và lãng mạn là một thứ trật tự giả tạo, là công trình sắp xếp của lý trí, khác hẳn với cuộc đời thực vốn là một tồn tại ngổn ngang và đầy phức tạp, và cũng khác hẳn với con người thực vốn bị chi phối một cách mạnh mẽ bởi những tác động từ trong vô thức và tiềm thức, những lực lượng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của họ. Vì vậy, họ đề cao nguyên tắc đứt đoạn trong việc diễn tả, từ đó, làm xuất hiện nhiều biện pháp nghệ thuật mới một thời từng làm xôn xao dư luận giới thưởng ngoạn như cách viết tự động, chọn chữ một cách ngẫu nhiên, kết hợp chữ không theo một quy luật cú pháp nào nhất định, collage hay kỹ thuật đồng hiện, v.v...

Những người cầm bút thời hậu hiện đại lại khám phá thêm một kích thước khác của ngôn ngữ: tính liên văn bản (intertextuality), theo đó, trong một văn bản, bất cứ chữ nào cũng có ít nhất hai mối quan hệ khác nhau: một, nội tại, với các chữ khác trong văn bản; hai, ngoại tại, với chính chữ ấy trong vô số các văn bản khác xuất hiện trước đó. Trong ý nghĩa này, có thể nói mỗi chữ được sử dụng trong văn bản là một nơi giao thoa của nhiều văn bản khác nhau trong đó chữ ấy đã xuất hiện.

Cũng có thể nói mỗi văn bản là một bức tranh khảm của những trích dẫn dù xuất xứ của chúng có được ghi nhận hay không.

Đẩy mạch lý luận này thêm một bước nữa, chúng ta cũng có thể nói những cái gọi là độc sáng chỉ là một ảo tưởng: Văn bản nào cũng là một liên văn bản. Chính vì hiểu rõ sự thực này, các nhà văn hậu hiện đại luôn luôn sáng tác trong cái ám ảnh những gì họ đang viết đã được viết ra đâu đó rồi.

Từ sự ám ảnh ấy, họ đã nhất loạt chấp nhận một số thủ pháp nghệ thuật khác nhau: thứ nhất, sự châm biếm (irony) trở thành một phong cách nổi bật bởi vì, nói như Umberto Eco, trong một thời đại đánh mất sự ngây thơ như thời đại của chúng ta, sự châm biếm là thái độ thích hợp duy nhất để người ta có thể tiếp tục viết lách;  thứ hai, biện pháp nhại lại (pastiche) được đặc biệt ưa thích bởi vì, nói như Fredric Jameson, trong thời đại ngày nay, người ta chỉ còn khả năng kết hợp hơn là khả năng sáng tạo ra cái mới.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Diễn đàn này đã đóng.
Ý kiến
     
Chưa có ý kiến ​​trong diễn đàn này. Bạn hãy là người đầu tiên góp ý

Blog

Công dân thủ đô là như thế

Đầu năm mới, nhân dân thủ đô đã ở thế chủ động, chỉ rõ những yếu kém của chính quyền, bảo vệ cuộc sống của 6.700 cây trồng lâu năm
Thêm

Một chính khách lớn và một người thầy xấu

Mở đầu bài viết tưởng niệm ông Lý Quang Diệu, cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger nhận định 'Lý Quang Diệu là một vĩ nhân'
Thêm

Bàn thêm về tư nhân hóa

Những nỗi lo sợ mới đây liên quan đến cổ phần hóa chủ yếu là do việc bán các tài sản trọng yếu trong lĩnh vực hạ tầng
Thêm

Ai là kẻ thù của Việt Nam?

Ở Việt Nam lâu nay, giới cầm quyền cũng như giới truyền thông hay nói đến những 'thế lực thù địch'
Thêm
Các bài viết khác

Bạn đọc làm báo

Xem ‘Nước 2030’ nghĩ về phim Việt

Trong những ngày qua, vài rạp tại San Francisco có chiếu phim do những đạo diễn gốc Việt từ Mỹ về Việt Nam quay và sản xuất
Thêm

40 năm nhìn lại: Kết thúc một quá trình, một cuộc chiến

Thảm cảnh bắt đầu từ vụ Buôn Mê Thuột thất thủ, tiếp đến là quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bỏ ngỏ Cao nguyên, di tản chiến thuật
Thêm

Vì sao TQ cấm làm đường gần biên giới, còn VN lại mở toang cửa ngõ biên giới với TQ?

Quân đội TQ đã ngưng dự án làm đường của chính quyền một thành phố nằm gần biên giới VN vì lo ngại nó có thể được sử dụng cho một 'cuộc xâm lược của Việt Nam'
Thêm

Một cuộc tàn sát môi trường của chính quyền Hà Nội

Chính quyền Hà Nội đã tiến hành 'dự án' chặt hạ 6.700 cây xanh lâu năm trên 190 tuyến phố, để lại những đường phố huơ huếch, xém cháy dưới mặt trời
Thêm

Tổng Trọng, Tướng Quang ‘qui mã’

Sự kiện ông Trọng thăm Mỹ có thể đưa Hà Nội đến gần hơn nữa với Washington, kể từ khi quan hệ Việt - Trung trở nên căng thẳng sau vụ giàn khoan HD-981
Thêm
Các bài viết khác
JavaScript của bạn đang tắt hoặc bạn có phiên bản Flash Player cũ của Adobe. Hãy trang bị Flash player mới nhất.
Myanmar ký dự thảo thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm phiến quâni
X
01.04.2015
Chính phủ Myanmar và đại diện của 16 nhóm nổi dậy sắc tộc lớn đã ký một dự thảo thỏa thuận ngừng bắn hôm thứ Ba mà tất cả các bên hy vọng sẽ kết thúc nhiều thập niên giao tranh.
Video

Video Myanmar ký dự thảo thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm phiến quân

Chính phủ Myanmar và đại diện của 16 nhóm nổi dậy sắc tộc lớn đã ký một dự thảo thỏa thuận ngừng bắn hôm thứ Ba mà tất cả các bên hy vọng sẽ kết thúc nhiều thập niên giao tranh.
Video

Video Iraq tuyên bố sắp giải phóng hoàn toàn thành phố Tikrit

Các lực lượng Iraq tiếp tục giao tranh với các chiến binh Nhà nước Hồi giáo ở thành phố Tikrit nhằm hoàn tất nỗ lực kéo dài nhiều tuần nay để tái chiếm khu vực nằm dưới quyền kiểm soát của những phần tử chủ chiến từ tháng 6 năm ngoái.
Video

Video Truyền hình vệ tinh VOA Asia 2/4/2015

Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành bằng Cát trên Biển Đông. Nhật Bản cam kết 1 tỉ đôla tiền viện trợ ODA cho Việt Nam. Myanmar ký dự thảo thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm nổi dậy.
Video

Video Nhật Bản cam kết 1 tỉ đôla tiền viện trợ ODA cho Việt Nam

Việt Nam sẽ nhận 1 tỉ đôla tiền viện trợ phát triển ODA để tài trợ cho 7 dự án về năng lượng, cơ sở hạ tầng, giáo dục và môi trường.
Video

Video Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành bằng Cát trên Biển Đông

Các công trình lắp đất xây đảo nhân tạo của Trung Quốc trong Biển Đông đã khiến người ta hoài nghi về những ý đồ của Trung Quốc, và tự hỏi liệu Bắc Kinh có thực sự muốn hợp tác hay là có ý định đối đầu với các cường quốc khác trong khu vực.