Đường dẫn truy cập

Kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ


Nhân dịp đánh đấu 20 năm bức tường Berlin sụp đổ (9 tháng 11), Thông tín viên VOA Andre de Nesnera đã phỏng vấn nhà sử học Frederick Taylor, tác giả cuốn sách“Bức tường Berlin-Một Thế Giới bị Chia Cắt 1961-1989” và ghi lại như sau:

Chiếu theo các điều khoản của Thỏa thuận Yalta ký năm 1945, các nước đồng minh thắng trận sau thế chiến thứ hai chia nước Đức thành bốn khu vực, hay còn gọi là vùng chiếm đóng, đặt dưới quyền kiểm soát của 4 nước Mỹ, Anh, Pháp, và Liên Xô.

Khoảng 160 kilomet bên trong vùng Liên Xô có thủ đô Berlin của Đức. Thành phố này cũng được chia làm 4 khu vực giống như cả nước Đức. Một thời gian sau khi chấm dứt thế chiến thứ hai, Liên Xô và các nước đồng minh phương Tây có những căng thẳng.

Vào năm 1949, các khu vực thuộc các nước phương Tây tách khỏi chính phủ cộng sản thân Liên Xô ở miền Đông, khu vực bao quanh thành phố Berlin.

Nhà sử học Frederick Taylor là tác giả quyền sách “The Berlin Wall - A World Divided 1961-1989” (Bức Tường Berlin, Một Thế Giới Phân Chia 1961-1989).

Sử giả Taylor nhận định: “Thành phố Berlin, nằm bên trong khu vực Xô-viết, đã bị chính phủ Liên-Xô và Đông Đức xem là một con ngựa thành Troie. Sinh hoạt theo kiểu tư bản tại thành phố này tương phản với lối sinh hoạt ngày càng khô cứng và áp bức của khối Xô-viết trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh”.

Nhà sử học Taylor nói rằng người ta đã lập ra đường biên giới giữa Đông và Tây Đức: “Thật vậy, cho đến năm 1952 đã có đường biên giới kiên cố mà ta có thể bị bắn nếu tìm cách đi từ Đông sang Tây. Nhưng Berlin lại nằm dưới một quy chế đặc biệt do quân đội kiểm soát và tuân theo luật quân đội, cho dù nước Đức đã chia làm hai. Trong thành phố có những chốt kiểm soát , đại để như vậy, nhưng người ta vẫn có thể qua lại dễ dàng giữa đông và tây Berlin. Điều đó có nghĩa là người dân Đông Đức có thể ra đi nếu quá chán với cuộc sống nghèo nàn và thiếu tự do dưới chế độ cộng sản Đông Đức. Và quả thực là như thế, vì vào năm 1951, Đông Đức còn nghèo hơn trước đó ba hoặc bốn năm”.

Ông Taylor nói rằng từ 1949 đến 1961, dân số 17 triệu người của Đông Đức mất đi khoảng 2 triệu rưỡi người chạy sang phía Tây.

Sử gia Taylor nhận định: “Về hệ quả là, điều hiển nhiên cho chính phủ Đông Đức và cho cả quan thầy Xô-viết của họ; là cho đến cuối thập niên 1950 và bước sang những năm 1960, 61; Đông Đức gặp cảnh mà ta hay gọi là xuất huyết cho đến chết, họ mất đi những người tài giỏi và ưu tú nhất chạy sang phía Tây. Vì vậy, họ phải làm một cái gì để ngăn chặn. Vấn đề ở đây là làm cái gì”.

Ông Taylor nói rằng lãnh đạo Đông Đức có nhiều chọn lựa: “Họ có thể đưa ra những cải cách, họ có thể làm cho kinh tế khá hơn, họ có thể cho tự do chính trị và tự do di chuyển mà tất cả những người văn minh và có trình độ đều muốn hưởng. Nhưng như ta đã thấy, họ đã không chọn những giải pháp đó. Họ bị lệ thuộc vào mô hình Stalinist về kinh tế chỉ huy, mà bây giờ chẳng còn bao nhiêu nước áp dụng, có lẽ chỉ còn Bắc Triều Tiên hoặc Cuba”.

Ông Taylor nói rằng lãnh đạo Đông Đức nhận thấy cách duy nhất để ngăn chặn người Đông Đức ồ ạt kéo nhau bỏ chạy sang Tây Đức là dựng lên một rào cản thực sự. Và họ đã quyết định xây lên một bức tường để chắn ngang, ngăn cách Đông và Tây Berlin.

Các sử gia nói rằng vào đêm 12 và 13 tháng Tám năm 1961, đúng ngày cuối tuần, hàng tấn gỗ, khối bêtông rỗng, dây thép gai được chuyển tới Đông Berlin.

Sử gia Taylor nói: “Về cơ bản, họ giăng dây thép gai ở mọi nơi, chặn các giao lộ từ phía Đông sang phía Tây Berlin bằng các khối bê tông kiên cố đến xe tăng cũng không thể húc đổ . Và cứ vài mét lại có lính gác đứng canh chừng các công nhân đang dựng chướng ngại vật, và cơ bản toàn thể rào cản được dựng chỉ trong vòng chưa đầy 12 giờ đồng hồ. Sáng Chủ Nhật ngày 13/8/1961, khi mọi người tỉnh giấc, cả người Berlin ở phía đông lẫn phía Tây đều chứng kiến một chướng ngại vật đã được dựng lên. Đó chưa phải là bức tường hoàn chỉnh mà chỉ là một hàng rào ngăn với các khối bê tông rỗng có giăng dây thép gai để chặn các con đường và ngăn không cho xe cộ vượt qua.”

Ông Taylor nói rằng Bức tường Berlin tạm thời với dây thép gai chỉ trong một đêm đã phân chia một cách rõ ràng xóm giềng, gia đình và bè bạn.

Sử gia Taylor nói tiếp: “Bất kể bạn đang ở đâu vào đêm đó, bạn phải quyết định sẽ phải làm gì. Nếu bạn là một người phương Tây sống ở phía Đông, họ sẽ cho bạn trở lại mà không hỏi han gì. Nếu bạn là người Đông Đức tới ở chơi với người thân ở phía Tây, vì là ngày cuối tuần, nên hàng nghìn người tới phía Tây, họ sẽ phải quyết định làm gì: trở lại với gia đình ở phía đông hay ở lại phía Tây. Nhiều người trong số đó quyết định ở lại với một sự hy sinh thực lớn. Nhưng cũng có các khu vực, rào cản mới chạy dọc theo ngay chính giữa các con đường.”

Sử gia này nói rằng chỉ khoảng một tuần sau đó một bức tường gần như hoàn chỉnh được xây dựng ở phía nam Cổng thành Brandenburg. Khi xây xong, bức tường dài khoảng 43 km ở nơi nó cắt ngang qua trung tâm thành phố Berlin, và dài hơn 110 km để tách Tây Berlin ra khỏi Đông Đức. Ngoài ra, có hơn 300 tháp canh cũng như các bãi mìn, đèn pha và súng bắn tự động.

Ông Taylor miêu tả cảm giác của nhiều người Đông Đức: “Đó là một bi kịch của thời đại này. Điều gây ấn tượng mạnh nhất khi tôi nói chuyện với những người từng trải qua thời kỳ đó là niềm hy vọng tan vỡ, sự thất vọng, nỗi lo sợ bị giam hãm; không được thở hít hay cảm nhận không khí tự do. Tôi nghĩ đó là điều khó hiểu đối với chúng ta.”

Trong suốt mấy thập kỷ sau đó, người Đông Đức vẫn cố tìm tới tự do bằng nhiều cách, từ trèo tường tới đào hầm xuyên qua bức tường chia cắt. Cơ hội vượt thoát được rất hiếm hoi. Nhưng ông Taylor cho biết người ta sẵn sàng liều mạng để tìm tới một cuộc sống tốt đẹp hơn ở ngay phía bên kia Bức tường Berlin.

XS
SM
MD
LG