Thứ năm, 20/06/2013
Xem

Blog / Nguyễn Hưng Quốc

Tạo hiện thực giả bằng ngôn ngữ

x
CỠ CHỮ - +
Trên cả ba bình diện quốc tế, quốc gia và liên cá nhân, ngôn ngữ bao giờ cũng gắn liền với ý niệm về quyền lực, do đó, đều có tính chính trị. (1) Giới làm chính trị hiểu rõ điều đó và không ngừng tận dụng ngôn ngữ như một thứ vũ khí để giành giật, và sau đó, bảo vệ quyền lực.

Trong lịch sử, không có giới chính trị nào hiểu điều đó một cách sâu sắc và tận dụng điều đó một cách triệt để cho bằng giới lãnh đạo cộng sản.

Về đề tài này, Andrei Sinyavsky có một chương viết rất thú vị về ngôn ngữ Xô Viết trong cuốn Soviet Civilization, A Cultural History (2). Tuy nhiên, ở đây, tôi chỉ giới hạn trong trường hợp của Việt Nam.

Từ lúc lên nắm chính quyền vào năm 1945, đảng Cộng sản đưa ra nhiều chính sách ngôn ngữ liên quan đến ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, tiếng Việt và tiếng nước ngoài (3). Ngoài các chính sách chung, họ cũng tung ra nhiều cuộc vận động lớn, bao gồm ba cuộc vận động chính: một, vận động cải tiến chữ quốc ngữ (vào tháng 9 năm 1960); hai, vận động giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (tháng 2 năm 1966); và ba, vận động chuẩn hóa tiếng Việt (tháng 7 năm 1983).

Về hai phương diện này, thật ra, không có gì đáng nói. Về chính sách, những người làm luật Việt Nam thừa hiểu biết và khôn ngoan để sử dụng những lời lẽ thật hay và đẹp, phù hợp với các xu hướng tiến bộ trên thế giới. Thì cũng, một mặt, thừa nhận một ngôn ngữ chính thức; mặt khác, thừa nhận và tôn trọng tính chất đa ngôn ngữ trong xã hội. Thì cũng bảo vệ ngôn ngữ các dân tộc thiểu sổ và khuyến khích dân chúng, hoặc ít nhất là học sinh và sinh viên, học thêm một thứ tiếng nước ngoài nào đó. Vấn đề người ta có thực hiện những điều đó hay không thì lại là một chuyện khác. Về các cuộc vận động phát triển tiếng Việt thì hầu như chỉ có tính chất phong trào. Đâu lại hoàn đấy. Cho đến nay, sau bao nhiêu cuộc vận động và sau hơn nửa thế kỷ cầm quyền, có những vấn đề đơn giản nhất, như nguyên tắc viết chính tả và cách thức phiên âm tên riêng từ nước ngoài, người ta vẫn chưa giải quyết được. Đọc sách báo, ở đâu người ta cũng thấy một tình trạng: cực kỳ lộn xộn. Đã có rất nhiều người lên tiếng than phiền về điều đó.

Tuy nhiên, những điều ấy đều nằm ngoài phạm vi bài viết này. Ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào những chủ trương chính trị hóa ngôn ngữ.

Ngay từ ngày mới lên nắm chính quyền, đảng cộng sản Việt Nam đã sử dụng ngôn ngữ để khẳng định sự tồn tại và bản sắc của chế độ cộng sản như một cái gì mới mẻ và tiến bộ nhất trong lịch sử, khác hẳn với các chế độ và các thời đại trước.

Cách thức dễ thấy nhất là đặt ra những tên gọi mới cho các đơn vị hành chính, các tổ chức và chức vụ trong hệ thống đảng cũng như nhà nước. Về tên miền, họ thay thế chữ “kỳ” quen thuộc thời Minh Mạng đến thời Pháp thuộc bằng chữ “bộ”: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ (4). Về tổ chức, người đứng đầu các cơ quan công quyền là “chủ tịch”, từ Chủ tịch nước (thay vì Tổng thống) đến chủ tịch các ủy ban nhân dân, từ cấp tỉnh (thay cho “tổng đốc”) xuống cấp huyện (thay cho “tri huyện”) và cấp xã (thay cho “chánh tổng”).

Người đứng đầu mỗi bộ là Bộ trưởng thay vì là Thượng thư (5). Ngay ở cấp thấp nhất, chữ “lính”, vốn rất quen thuộc, người ta cũng ngại: nó gợi nhớ đến những lính thực dân và lính đánh thuê ngày trước. Bèn thay bằng những chữ như “vệ quốc quân”, “giải phóng quân”, “chiến sĩ cách mạng”, và cuối cùng, thông dụng nhất, “bộ đội”.

Cũng về phương diện tổ chức, để làm nổi bật tính chất dân chủ, một thứ nhà nước của dân, do dân và vì dân mà họ muốn tuyên truyền, người ta ghép từ “nhân dân” vào hầu hết các cơ quan nhà nước: Ủy ban nhân dân, công an nhân dân, quân đội nhân dân, tòa án nhân dân, đại biểu nhân dân, đoàn xiếc nhân dân (chỉ trừ một ngoại lệ: Ngân hàng nhà nước!). Không “nhân dân” thì “tập thể”: nhà ở tập thể, nông dân tập thể, cửa hàng ăn uống tập thể. Xưng hô với nhau, người ta đều gọi nhau là “đồng chí”. Cả với người yêu cũng vẫn là “đồng chí” (Thơ Vũ Cao, trong bài “Núi đôi”: “Nhớ nhau anh gọi em: đồng chí”; thơ Nguyễn Đình Thi, trong bài “Không nói”: “Chiều mờ gió hút / Bắt tay / Đồng chí / Em / Bóng nhỏ / Đường lầy.”) (6)

Ở khía cạnh này, có bốn đặc điểm đáng chú ý.

Thứ nhất, chính quyền cộng sản muốn tách rời khỏi các danh xưng gắn liền với chế độ phong kiến trước đó.

Thứ hai, họ muốn “sang hóa” thể chế của họ nên họ tận dụng thật nhiều từ Hán Việt, phần lớn là vay mượn thẳng từ kho từ vựng chính trị và hành chính từ Trung Quốc: Giống như Trung Quốc, họ cũng có Chủ tịch, có Tổng bí thư, bí thư, có các chi bộ, chi ủy, chi ủy viên, chính ủy. Ngôn ngữ chính trị của cộng sản đầy ắp từ Hán Việt. Đó là một nghịch lý: về phương diện lý thuyết, tất cả các nhà lãnh đạo cộng sản, từ Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đến những người khác, đều tuyên bố nên giảm thiểu đến tối đa các từ Hán Việt và nên tận dụng lớp từ thuần Việt nôm na và bình dị của quần chúng.

Nghịch lý này tiết lộ đặc điểm thứ ba trong cách định danh của ngôn ngữ cộng sản: tính chất kỳ thị. Từ Hán Việt được sử dụng cho những gì thuộc về họ, và từ thuần Việt được “ưu tiên” dành riêng cho phe địch. Từ đó, chúng ta thấy có các sự đối lập: thuộc phe ta là “bộ đội”, thuộc phe địch là “lính”; thuộc phe ta là “phi công”, thuộc phe địch là “giặc lái”; thuộc phe ta là “văn nghệ sĩ”, thuộc phe địch là “bồi bút”; thuộc phe ta là “nhân danh”, thuộc phe địch “núp dưới tên”; thuộc phe ta thì có “Hồ Chủ tịch”, thuộc phe địch thì chỉ có Diệm hoặc Kỳ hoặc, xa hơn, ở Mỹ, thì có “Tổng Ai” (Eisenhower), “Tổng Ken” (Kennedy), “Tổng Nít” (Nixon) hay “Tổng Giôn” (Johnson) (7). Trong cách xưng hô, đứng trước tên riêng, thuộc phe ta thì bao giờ cũng phải có chức danh phía trước: hoặc “Bác Tôn” hoặc “Đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn”; với những người khác thì ít nhất phải là “đồng chí”; thiếu là bất kính; thuộc phe địch thì hoặc trống không hoặc là “thằng” (“thằng Diệm”), “con” (“con Trần Lệ Xuân”) hoặc “mụ” (“mụ Thụy An” – một người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm). Chữ “đồng chí” chỉ được dùng giữa người của họ với nhau mà thôi. Dân chúng nói chuyện với đảng viên hay các quan chức nhà nước thì phải gọi là “cán bộ”. Liên quan đến đặc điểm này, có một chuyện cười khá phổ biến ở Việt Nam: Có một ông già đang đi đường thì bị công an bắt. Từ trong buồng giam, nhìn ra ngoài, ông nhác thấy bóng đứa con trai của ông đang làm công an ở nhà tù. Ông mừng rỡ, gọi ơi ới: “Con! Con!” Một tên quản giáo đi ngang qua, nghe thế, quát: “Ông kia, ông nói ai là ‘con’? Phải gọi là ‘cán bộ’, nghe chưa?” Ông già sợ hãi, im bặt. Lúc ấy con trai ông cũng vừa thấy, đến gần. Ông già nghiêm chỉnh gào to: “Báo cáo cán bộ, xin nhờ cán bộ về nói với mẹ cán bộ là chồng của mẹ cán bộ mới bị bắt. Xin đề nghị đi thăm nuôi!”

Cuối cùng, thứ tư, cộng sản độc quyền chiếm dụng hẳn một số từ nhất định. Ví dụ, chữ “Đảng” viết hoa, đứng một mình, phải được hiểu là đảng Cộng sản; chữ “Bác” cũng vậy, khi viết hoa và đứng một mình, đều chỉ riêng một người: Hồ Chí Minh. Không thể có ai khác. Ngay cả chữ “Người” viết hoa, cũng ưu tiên dành cho Hồ Chí Minh. Thời Nhân Văn Giai Phẩm, Trần Dần bị phê phán là “phản động” vì nhiều lý do; một trong những lý do ấy cũng là ở chữ “Người”. Phan Khôi, trong bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, kể: “Tôi nhớ một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ ‘người’ viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ ‘người’ viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ ‘người’ không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài những chữ không phải thuộc về hoàng thượng.”(8) Nghe như chuyện hài hước. Nhưng không nên quên: vì những chuyện đại loại như thế, Trần Dần đã bị bắt bỏ tù hơn ba tháng, bị cải tạo lao động hơn một năm và bị cấm xuất bản trên 30 năm!

Liên quan đến việc đặt tên, cần chú ý đến sự thay đổi trong chính sách của đảng Cộng sản trong mấy thập niên đầu tiên: thoạt đầu, họ theo hướng quốc tế hóa; sau, dân tộc hóa.

Xu hướng quốc tế hóa ấy thể hiện ở ngay trong tên đảng: “Đảng Cộng sản Đông Dương” (thay vì đảng Cộng sản Việt Nam) và trong tên cuộc vận động chính trị đầu tiên của đảng ấy: “Xô Viết Nghệ Tĩnh” (1930-1). Xô Viết Nghệ Tĩnh bị thất bại nặng nề, một phần, vì sự đàn áp khốc liệt và hiệu quả của Pháp; phần khác, vì sự ủng hộ thưa thớt và yếu ớt của quần chúng. Lý do thứ hai này lại xuất phát từ một lý do khác: ngay tên gọi và các khẩu hiệu của phong trào đã hoàn toàn xa lạ với quần chúng, vốn bao gồm, trước hết, thành phần nông dân ít học, hoàn toàn không biết gì về Liên Xô và chủ nghĩa xã hội.

Rút kinh nghiệm từ những thất bại ấy, họ chuyển hẳn sang hướng dân tộc hóa với những tên gọi như “Việt Minh”, “Văn hóa Cứu quốc” và cuối cùng, từ năm 1951, “Đảng Lao Động Việt Nam”. Trong cái gọi là xu hướng dân tộc hóa trong lãnh vực ngôn ngữ này, những người lãnh đạo cộng sản vừa có ý thức vừa biết cách tận dụng sức mạnh của truyền thống trong việc tuyên truyền. Trong cái gọi là truyền thống ấy, có một yếu tố quan trọng: ý thức đạo đức. Trong khi nền tảng xã hội ở các nước Tây phương phần lớn được xây dựng trên các tôn giáo có tính mặc khải (revealed religions), ở Việt Nam, cũng như Trung Quốc, nó lại được xây dựng trên ý niệm về đạo đức (9). Ý niệm đạo đức ở Việt Nam lại được xây dựng trên hai cơ sở chính: Nho giáo và gia đình. Hồ Chí Minh, ngay từ lúc mới lên nắm chính quyền, đã tận dụng cả hai. Ông tự xây dựng hình ảnh mình không như một lãnh tụ hùng hồn và hùng dũng như Lenin, Stalin và Fidel Castro, cũng không bệ vệ và oai vệ như Mao Trạch Đông, mà chỉ như một nhà nho, hơn nữa, một người quân tử theo quan điểm Nho giáo (10). Ông thường thù tạc với các chính khách khác bằng chữ Hán. Rồi làm thơ bằng chữ Hán. Ông sử dụng lại các khái niệm quen thuộc trong Nho giáo: “Trung với đảng, hiếu với dân”. Và ông đóng vai một người “cha già” hoặc “Bác” trong khi những người khác trong ban lãnh đạo thì đóng vai “anh”, từ anh Tô (Phạm Văn Đồng) đến anh Văn (Võ Nguyên Giáp), anh Thận (Trường Chinh), rồi, với những người từng hoạt động trong Nam, anh Ba (Lê Duẩn), anh Sáu (Lê Đức Thọ), anh Mười (Nguyễn Văn Linh), v.v.

Cũng liên quan đến việc khẳng định sự tồn tại và bản sắc qua ngôn ngữ, nhà cầm quyền cộng sản còn có thói quen sử dụng thật nhiều các định ngữ (11) hoặc bổ ngữ (12). Đi liền với lãnh tụ thì bao giờ cũng phải có chữ “vĩ đại”; với lãnh đạo thì “thiên tài” hay “sáng suốt”; với Đảng thì “quang vinh”; với chiến thắng thì “vẻ vang” hay “vang dội”; với lịch sử thì “rực rỡ”; với tranh đấu thì “oanh liệt”; với dân tộc thì “bất khuất”; với chính sách thì “đúng đắn”; với chỉ đạo thì “sâu sát”; với kẻ thù thì “tàn bạo”; với tộc ác thì “dã man”; với âm mưu của kẻ thù thì phải có “tinh vi” hay “hiểm độc”; với chính quyền địch thì phải có chữ “tay sai” hoặc “bù nhìn”; văn hóa, ở miền Bắc, phải đi liền với chữ “xã hội chủ nghĩa”, ở miền Nam, chữ “suy đồi”. Đứng trước tên nước Pháp phải có chữ “thực dân”; trước Mỹ, “đế quốc”; trước Trung Quốc (cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980), “bá quyền”; hoặc gọn hơn, “giặc”.'

Có thể nói, bằng các cách kết hợp từ như vậy, cộng sản đã tạo thành vô số các sáo ngữ. Thật ra, ở đâu và thời nào cũng có sáo ngữ. Chỉ có điều là, sáo ngữ, ở những nơi và những thời khác, phần lớn do lười biếng; dưới chế độ cộng sản, do bắt buộc. Ai cũng phải nói và viết thế. Khác đi, người ta có thể bị chụp mũ là phản động. Thành ra, hầu hết những bài văn chính luận của cộng sản đều có những cấu trúc ngữ hoặc có khi, cấu trúc câu, y hệt như nhau.

Việc lặp đi lặp lại mãi và bắt mọi người phải tự lặp đi lặp lại mãi những sáo ngữ như vậy cũng là một cách nhồi sọ. Biện pháp nhồi sọ ấy được thực hiện rộng khắp trong mọi lãnh vực, từ gia đình đến nhà trường và xã hội; và triền miên, từ năm này qua năm khác. Cuối cùng, ngôn ngữ, thay vì phản ánh hiện thực, lại tạo ra những ảo tưởng về một hiện thực mới. Với nhiều người, ảo tưởng ấy thay thế cho hiện thực. Sống dưới chế độ cộng sản là sống trong ảo tưởng và với những sáo ngữ như thế. Sáo ngữ trở thành thông hành cho mọi người.

Trong cuốn Soviet Civilization: A Cultural History, Andrei Sinyavsky kể: Đầu thập niên 1950, ông được mời tham gia ban giám khảo chấm một luận án tiến sĩ về Vladimir Mayakovsky của một nghiên cứu sinh Việt Nam. Hội đồng chấm thi không hài lòng với cái luận án ấy ở hai điểm chính: một, thường xuyên trích dẫn Hegel; và hai, đề cao chủ nghĩa vị lai (Futurism) Nga. Cả hai điểm ấy đều bị dị ứng dưới chế độ Xô Viết lúc bấy giờ. Họ muốn đánh hỏng. Nhưng Sinyavsky lại bênh vực. Ông không cãi lý về học thuật. Ông chỉ sử dụng ngôn ngữ chính trị để thuyết phục: “Các đồng chí thân mến! Đây là luận án đầu tiên được viết bởi một người Việt Nam và không phải về ai khác hơn là một nhà thơ hàng đầu của Cách mạng Nga, về Vladimir Mayakovsky! Chẳng phải là một sai lầm chính trị nếu Hội đồng không thông qua luận án này sao?” Sinyavsky kết luận: “Những lời lẽ ngắn gọn ấy như một phép màu (magic)”: Luận án được chấm đậu! (13) Hiện tượng như vậy chắc chắn cũng thường xuyên xảy ra ở Việt Nam. Giới cầm bút hiểu rõ điều đó: Viết về bất cứ điều gì, chương đầu tiên bao giờ cũng trích dẫn dài dòng các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa xã hội và ý kiến của giới lãnh đạo trong nước. Nhiều khi những trích dẫn ấy chả dính dáng gì đến đề tài họ nghiên cứu. Nhưng người ta vẫn làm. Như một thứ bùa hộ mệnh.

***
 
Chú thích:
  1. Xin xem lại các bài viết về “Tính chính trị trong ngôn ngữ” đã đăng trên blog này trước đây.
  2. Andrei Sinyavsky (1990), Soviet Civilization, A Cultural History, Joanne Turnbull dịch từ tiếng Nga, New York: Arcade Publishing, tr. 190-225.
  3. Xem bài “Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của Nguyễn Thiện Giáp trên http://ngonngu.net/index.php?p=172
  4. Chữ “kỳ” xuất hiện lần đầu tiên từ năm 1834, dưới thời Minh Mạng. Lúc ấy, Minh Mạng chia Việt Nam thành ba “kỳ”: Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Kinh Kỳ (Huế). Pháp chiếm Việt Nam, vẫn duy trì chữ “kỳ” ấy, chỉ đổi Kinh Kỳ thành Trung Kỳ. Khi Việt Nam lên nắm chính quyền, chữ “kỳ” được đổi thành chữ “bộ”. Năm 1948, chính phủ Nguyễn Văn Xuân, để khác với thời Việt Minh, đổi chữ “bộ” thành chữ “phần”, từ đó, chúng ta có: Nam phần, Trung phần và Bắc phần; nhưng một năm sau, họ lại chủ trương dùng chữ “Việt”: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt. Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lại đổi chữ “Việt” thành chữ “phần” như cũ. Xem thêm chi tiết về những sự thay đổi này trong cuốn Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930 của Bằng Giang, nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992, tr. 10-18.
  5. Sự thay dổi này đã có từ chính phủ Trần Trọng Kim vào đầu năm 1945.
  6. Bài “Không nói” này có ít nhất ba dị bản: bản đăng trên báo Văn Nghệ năm 1948; trong tập Người chiến sĩ năm 1960 và trong cuốn Thơ Nguyễn Đình Thi năm 2001. Ở bản sau cùng, Nguyễn Đình Thi bỏ chữ “đồng chí”. Xem bài “Cuộc tranh chấp hai con người trong thơ Nguyễn Đình Thi” của Hoàng Hưng trên http://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=8466&catid=6
  7. Thơ Tú Mỡ: “Dân thủ đô khoái tệ / Có tiếng cười ngạo nghễ / Tổng Giôn thèm chuối tiêu / Ông cho... xơi đằng rễ.” Hồ Chí Minh cũng thường xuyên sử dụng những cách nói này trong cuốn Nói chuyện Mỹ... ký tên C.B., Đ.X., T.L., Chiến Sĩ và Trần Lực do Quân Độ Nhân Dân xuất bản tại Hà Nội năm 1972.
  8. Giai Phẩm mùa thu, 1956, tập 1, tr. 11.
  9. Peter A. DeCaro (2003), Rhetoric of Revolt: Ho Chi Minh’s Discourse for Revolution, London: Praeger, tr.  31.
  10. DeCaro (2003) ghi nhận một chi tiết: Khác với các lãnh tụ cách mạng khác, Hồ Chí Minh không bao giờ mang súng. (tr. 61)
  11. Bổ nghĩa cho danh từ.
  12. Bổ nghĩa cho động từ hoặc tính từ.
  13. Andrei Sinyavsky (1990), sđd., tr. 204-5. Tôi đoán tác giả luận án tiến sĩ này chính là Hoàng Ngọc Hiến (1930-2011). Và Sinyavsky nhớ nhầm: luận án này được đệ trình vào đầu thập niên 1960 chứ không phải đầu thập niên 1950. Các nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ của Việt Nam chỉ được gửi sang Nga du học từ cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960.
 * Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Diễn đàn này đã đóng.
Trình bày ý kiến
Ý kiến
     
bởi: xx&xx
11.09.2012 11:27
Ai bảo phải sinh ra ngôn ngữ làm gì cơ chứ!Khả năng diễn đạt ý nghĩ của con người bằng ngôn ngữ cũng đa dạng và phong phú lắm ,cho nên các cụ bảo"lưỡi ko xương,nhiều đường uốn éo.Dân đen còn biết lợi dụng để mưu lợi cho cá nhân,thì nhà nc có ngu gì mà chả lợi dụng cho sự lãnh đạo,sự thống trị của mình!Chế độ xã hội nào,nc nào,thời gian nào,mà chả thế!Đâu phải chuyện thật giả gì ở đây,giả mà có lợi thì nên giả,còn hơn thật mà chẳng có ích lợi gì!Cộng Sản hay ko CS đều giống nhau về điểm này!Ông Quốc toàn là bới bèo ra bọ!Bài viết này, cũng là 1 trong những hình thức"Tạo hiện thực giả bằng ngôn ngữ" đấy ông Quốc ạ!

bởi: Vô danh
10.09.2012 15:16
Trung Quốc là kẻ đại thù của dân tộc VN, tại sao bạn lại "đời đời cúi đầu vâng phục" mà thắp đèn cầy đọc thần chú để ca tụng chúng? chỉ có Trung quốc là tốt ", TQ chỉ tự vệ?. Loài thú chẳng biết phân biệt gì thì thôi. Còn bạn? bạn là con người biết ăn từng hạt cơm mà sao bạn cũng giống như chúng vậy?

bởi: Vietnammenyeu từ: Canada
09.09.2012 19:14
Tạo hiện thực giả bằng ngông ngữ như: 1- Mỹ, Tây ký hiệp định Genève 54 bảo 2 năm sau tuyển cử, chính quyền thuộc địa miền Nam có bổn phận phải tuân theo Chính Phủ Đô Hộ Pháp dù sau đó Pháp đưa sang cho Mỹ cai trị tiếp, Chính Phủ thuộc địa miền Nam đáng lẽ chiếu theo kẻ cai trị mình thì lại lật lọng bác bỏ làm chiến tranh chết thêm mấy triệu dân VN còn đổi thừa miền Bắc gây chiến. 2- Sau 20 năm mang danh nghĩa Ngụy, tình nguyện làm nô lệ Mỹ nên VN cần phải thanh toán đám Ngụy thì Mỹ tạo hiện thực giả bằng ngôn ngữ là chống CS, chống lại VN chân chính nhưng bị thua nhảy tủm tủm xuống biển. 3 - Đến khi Ngụy thua chạy mà cũng dùng ngôn ngữ tạo hiện thực giả là tại CS mà phải chạy mặc dù không có CS nào biểu họ chạy cả. 4 - Đang sống với CS chịu kham khổ không nỗi trốn chui ra ngoại quốc lại tạo hiện thực giả bằng ngôn ngữ đổi thừa là tại CS khắc nghiệt quá nên phải chạy. 5 - Xứ VN chật hẹp, CS làm được như hôm nay là khá lắm rồi, Ngụy dùng ngôn ngữ chê bai, chửi bới CPhủ mà mọi người thừa biết rằng dù có 3 đầu 6 tay cũng không thể làm hơn được. Ngôn ngữ nói ra do cái lưỡi, tiếng Pháp là "langue", VN có câu "cái lưỡi không xương nhiều điều lắc léo" đó chính là Ngụy vậy!
Trả lời

bởi: Vô danh
10.09.2012 19:01
'Ai "Lật lọng bác bỏ làm chiến tranh chết thêm mấy triệu dân VN..." ?.NhO (Canada) con,đúng là cô bác anh chị tên diễn đàn nầy nói chẳng sai tí nào.Vc là thứ lì cứng đầu cứng cổ,chuyện có nói không,chuyện không nói có,chuyên ném đá giấu tay,ngậm máu phun người,nên dẫu có kề tai dạy bảo chúng thì chẳng khác nào "đem đàn gảy tai trâu". Qua đã nói nhiều lần nhưng con vẫn không nghe.Tổng tuyển cử thống nhất đất nước cần phải được 2 bên thực tâm tôn trọng.Phía MN thì thật thà,văn minh,chấp hành triệt để chờ 2 năm sau làm theo như văn bản đã ký kết. Phía ngụy quyển MB ( tay sai bán nước cho Tàu) thì cái cốt lưu manh không chừa,và cái tật mê cái phản quốc của HCM đã cài cán bộ Việt Minh ở lại MN để gian lận,quấy phá trong thời gian chờ đợi hỏi ý kiến nhân dân thống nhất san hà.
Qua hỏi con là bà của con ghiền tứ sắc,mà cái con mụ kia là tay cờ gian bạc lận, con cản Bà con không cho "xoè" hay là con xúi bà con cứ ngồi tụ với ả gian xảo đó? Qua nghĩ là xúi rồi chớ cản thì làm sao kiếm chác chút cháo. Đó là mới nói cái vụ ăn gian thôi nha. Còn gây chiến tranh,thì cái thời HCM sống trong động Pác Pó,rồi cái lúc đập đầu người vợ trẻ "cháu ngoan" liệng ra đường đổ thừa cho hớ hênh đi mắt nhắm mắt mở bị xe tong.Đấy,đấy là thời điểm tối thui như âm cung của chú Thu dạy học trò thị Lạc, thì con muốn làm mây làm gió,nói dóc gạt ai cũng được. Còn bây giờ thời đại của mạng lưới mà con cứ dở trò nói láo thì thiên hạ sẽ đào ông bới cha cho. Qua hỏi để mà chơi thôi,c hớ Qua biết con biết rầt rõ HCM được Tàu cưới vợ tên là Tăng Tuyết Minh, rồi làm tay sai cho Tàu, phát súng đạn cho cái tụi luật sư, kiến trúc sư học thói côn đồ, kéo nhau vào rừng sống đời thảo khấu, chém đầu,mổ bụng dân,làm chiết tranh gây thương đau cho dân tộc.Đám nầy đưa đầu đở đạn để cho cái bọn ngụy quyền Hà Nội kéo nhau cả bầy ăn cướp cho nên mới có cái con đường lâm tặc mang tên chúa chổm "ĐƯỜNG MÒN HCM ".2 ông Diệm,Thiệu không lẽ làm đường nầy để rước bọn ngụy quyền Hà Nội vào Nam làm giặc.Như vậy rõ ràng là đứa con nít thời nay cũng biết HCM chính hiệu con nai vàng chui động, mở đường làm giặc đánh mướn cho Tàu, gây vô vàn đau thương tang tóc cho dân tộc VN .Hậu qủa là VN đang chờ để xáp nhập thành 1 tỉnh của Tàu.HCM là tên tội đồ tay sai của Tàu,phát động chiến tranh để dâng tổ quốc cho giặc.
Trả lời

bởi: TH-Hạ Hồng Kỳ từ: Canada
10.09.2012 11:09
@Vietnammenyeu(trung-cộng):

1) CSVN không dùng lưỡi để nói chuyện, để chửi bới, miệt thị người khác là “Ngụy”, hay sao? Nếu không dùng lưỡi thì dùng cái gì? Nếu không dùng lưỡi để chuyện, CSVN dùng cái lưỡi để làm gì?
2) Lãnh thổ Korea có rộng hơn VN hay không? Tại sao Korea phú cường, còn VN thì nghèo đói? Tại sao VN đã chật hẹp mà nhà nước CHXHCN-VN lại nhường đất, nhường đảo, nhường biển cho Tàu cộng? Tại sao nhà nước CHXHCN-VN cho phép hàng trăm ngàn dân Tàu cộng vào VN trong khi đất đai VN đã chật hẹp?
3) Vietnammenyeu(trung-cộng) có phải là con vẹt hay không mà nói chuyện như con két vậy? (Nói sáo rỗng nhưng không hiểu mình đang nói gì. Ví dụ như viết là “…mang danh nghĩa Ngụy”. Đã cho người ta “danh nghĩa” nhưng lại kêu bằng “Ngụy”. Đây là ngu dốt hay đang “tạo hiện thực giả bằng ngôn ngữ”? )

bởi: Hồ Thần Thánh từ: Canada
09.09.2012 18:33
Cộng Sản Trung Cộng đang định áp dụng chính sách trồng "NGƯỜI" đười ươi ở Hongkong nhưng bị "nhân dân" phản đối kịch liệt nên đã tạm nhún nhịn.Những chính sách che mắt, lừa đảo của Việt gian Cộng sản thời gian sẽ lột trần...

bởi: Giáo viên từ: Saigon
09.09.2012 18:09
Tôi có một đứa con đang học khoa văn một trường đại học Saigon con tôi thường dẩn chứng những gì hồ chí minh thường lập đi lập lại khi ban chỉ thị cho các thuộc cấp như như là Chí công vô tư.......vua Hùng dựng nước, bac cháu ta giử nước......cho bất cứ đề tài nào trong khóa học....tôi hỏi con tôi: Khi con Dẩn chứng như thế con thấy có đúng không?con tôi nói nhỏ vào tai tôi:Con mở internet, con vào youtube con thấy nhiều người Dẩn chứng hồ chí minh sai thủ tướng phạm văn đồng làm công hàm bán nước cho Trung Cọng hư thực thế nào hả bố?

bởi: BỐ Th...NHÔ (NPCN) từ: Hoàng Kỳ
09.09.2012 16:19
Tất cả chỉ là thứ ngôn ngữ "vong bản" mà CS dùng nó,khai thác triệt để kể cả ngữ âm để mị dân,và tuyên truyền cho CĐ,tất cả chĩ là sáo ngữ,mị văn,lai căng và vong bản.Ngay cả caí chủ thuyết CS cũng chẳng dây mơ,rễ má gì đến DT cả.Cả nước bây giờ cách dùng chữ đều gốc gác từ "Bộ chữ chổi lông " TQ.Không những văn học,ta còn nhìn,nghe thấy trong âm nhạc,Ngũ cung VN cũng bị Tầu hoá,Thanh nhạc đều bàng bạc cách hát cuả tầu.Nghe lại các baì hát,cách hát cuả CĐ,các baì ca hừng hừng maú,lưả,mà quân chúng gọi là nhạc đỏ,ta dể có có cảm giác có caí kĩ thuật thanh nhạc kiểu tâù.Chẳng hạn baì HÀ NỘI NIỀM TIN HY VỌNG,ANH VẪN HÀNH QUAN,thậm chí baì hát mang âm hưởng Nam Bộ như CÔ GAÍ SAÌ GÒN ĐI TẢI ĐẠN khi hát lên cũng nghe ko VIỆT và còn rất nhiều những thứ lai căng,vong bản.Họ những người CS lúc nào cũng chỉ muợn DT như một phương tiện,Đảng là ai?họ xuất thân từ CSQT,"người" (ông HỒ) nếu đọc những gì ông viết ko thể cho đó là kiểu nhà Nho được,nó chỉ có thể nhìn như một kiểu Hán hoá,Trung cộng hoá.Tất cả những ngôn ngữ trong bộ maý cầm quyền cho đến hôm nay đều là bản sao,khuôn đúc như NN TQ.Như vậy thứ ngôn ngữ,tạo danh xưng cho chế độ ko những sáo rỗng,mà hoàn toàn vong bản.
Trả lời

bởi: Trung Quân từ: Hoa Kỳ
10.09.2012 11:12
Ngôn ngữ, Văn chương chuyển biến theo từng thời đại của dân tộc, của đất nước... Ông Hồ viết như "Hán hóa" là đúng vào thời gian đó. Những bản nhạc bạn nêu ra là những bản nhạc tuyên truyền trong thời chiến, dựa theo âm điệu TQ, đúng! Bản Trường sơn Đông, Trường sơn Tây thì Việt đấy chứ! Còn "hoàn toàn vong bản" mà bạn nói, thiết nghĩ không hẳn "vong bản" trong ngôn ngữ. Nhìn qua Châu Mỹ, có Mỹ nói tiếng Anh, Canada vừa Anh vừa Pháp, Brazil nói tiếng Bồ đào nha (Portuguese), còn lại các nước khác nói tiếng Tây ban nha (Espanol - Spanish). Với Nhật và Hàn quốc (Bắc Hàn cũng vậy) có khoảng hơn 70% chữ viết trong văn kiện quan trọng là Hán tự... Có ai nói là nhờ mẫu quốc mà họ có chữ viết, có tiếng nói đâu? Việt nam cũng vậy... vào thời Hán thuộc, ta dùng chữ Hán, đến khi có chữ Việt (a, b, c...), tất nhiên ảnh hưởng của chữ Hán vẫn còn. Qua thời Pháp thuộc, bạn xem lại phụ tùng xe đạp toàn tiếng Tây... Ngày nay trong ngành khoa học, Y, điện toán thì tiếng Anh chiếm cũng khá đấy chứ... Với đà giao lưu văn hóa tiếng Việt sẽ phong phú nữa, nữa... bạn ạ!
Trả lời

bởi: Vô danh
10.09.2012 19:24
NhO Trung quân Hoa Kỳ, "Giao lưu văn hóa tiếng Việt " là gì vậy con NhO ? Là ồ ạt kéo nhau cả lũ sang Mỹ ăn mày,ăn cắp,chớ chẳng chịu cho người ta đến nhà mình sợ bị lộ đồ ăn cướp.Chú Trung nầy chỉ nói cho Tiện nghe vậy thôi.Trung với đảng là cái cốt ,còn hiếu với dân là xảo ngôn,đệm thêm Hoa Kỳ hàm nghĩa :Thích được ăn chực của Mỹ,... Hoa Kỳ là :...Trốn chui ăn chực Mỹ, nhưng cốt ngu vẫn hoàn ngu .

bởi: Bắc Kỳ 75 từ: Thiên Đàng CS
09.09.2012 16:01
Có một chuyện cười khá phổ biến ở Việt Nam: Có một ông già đang đi đường thì bị công an bắt. Từ trong buồng giam, nhìn ra ngoài, ông nhác thấy bóng đứa con trai của ông đang làm công an ở nhà tù. Ông mừng rỡ, gọi ơi ới: “Con! Con!” Một tên quản giáo đi ngang qua, nghe thế, quát: “Ông kia, ông nói ai là ‘con’? Phải gọi là ‘cán bộ’, nghe chưa?” Ông già sợ hãi, im bặt. Lúc ấy con trai ông cũng vừa thấy, đến gần. Ông già nghiêm chỉnh gào to: “Báo cáo cán bộ, xin nhờ cán bộ về nói với mẹ cán bộ là chồng của mẹ cán bộ mới bị bắt. Xin đề nghị đi thăm nuôi!” ( NHQ ) - - - Chuyện kể thời kỳ Cải cách ruộng đất. Một cán bộ gái mặc quần ống thấp ống cao, áo mặc kiểu " áo lửng lơ, quần đợi chờ " chân mang dép râu, đầu cột khăn, tay cầm roi tre, mắt trợn trừng, chỉ roi về hướng lão già tội nghiệp, bị trói 2 tay thúc ké sau lưng đang quỳ dưới đất, trước Tòa án Nhân dân, giọng nói the thé : " Thằng già địa chủ nợ máu Nhân dân kia. Mày biết tao là ai không ? Dạ thưa cán bộ con biết. Con là bố đẻ của cán bộ. "
Trả lời

bởi: joegoing từ: us
11.09.2012 10:33
Rat hay ..rat deu & rat tham thia dang so khi ma dat nuoc tran ngap mot che do cs

Blog

Tình thế đòi hỏi

Tình hình chính trị ở Việt Nam đang đòi hỏi cấp bách một tổ chức chính trị, để thoát khỏi tình trạng độc đảng
Thêm

Lợi dụng tự do dân chủ và lợi dụng quyền lực

Chỉ trong hơn 2 tuần, chính quyền Việt Nam ra lệnh bắt khẩn cấp 2 blogger Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào
Thêm

Nhớ Thế Uyên (1935-2013)

Sáng 12/6/2013, tôi nhận được email của nhà văn Phạm Phú Minh từ California cho biết nhà văn Thế Uyên vừa từ trần
Thêm

Lòng tin và sự xấu hổ

Sự tin cậy là một trong những yếu tố quan trọng nhất để mọi người có thể sinh hoạt chung với nhau trong xã hội
Thêm

Đảng đi đường đảng, dân đường dân

Việc sửa đổi Hiến pháp được lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam coi là sự việc hệ trọng nhất trong năm nay
Thêm
Các bài viết khác
JavaScript của bạn đang tắt hoặc bạn có phiên bản Flash Player cũ của Adobe. Hãy trang bị Flash player mới nhất.
JavaScript của bạn đang tắt hoặc bạn có phiên bản Flash Player cũ của Adobe. Hãy trang bị Flash player mới nhất.
Video

Video Các tổ chức nhân quyền kêu gọi Mỹ can thiệp cho LS Lê Quốc Quân

Trung tâm Robert Kennedy yêu cầu Việt Nam phóng thích luật sư Lê Quốc Quân (Phỏng vấn ông Lê Quốc Quyết, luật sư Trần Thu Nam, Giám đốc Cơ quan NED Carl Gershman). Các tổ chức nhân quyền quốc tế yêu cầu Việt Nam phóng thích luật sư Lê Quốc Quân (Phỏng vấn luật sư Nani Jansen, cố vấn luật cao cấp của tổ chức Media Legal Defense Initiative). Ngân hàng Thế giới cam kết giúp các thành phố lớn ở châu Á tránh bị tác động của tình trạng biến đổi khí hậu. Người tị nạn trên toàn cầu lên đến mức cao nhất trong 18 năm nay. Trung Quốc loan báo Bắc Triều Tiên muốn tái tục đàm phát 6 bên về hạt nhân. Trung Quốc bị tố cáo hạn chế tự do ngôn luận của Tây Tạng. Xem thêm: http://www.voatiengviet.com/ và http://www.youtube.com/VOATiengVietVideo