Thứ hai, 01/09/2014
Xem

Blog / Nguyễn Hưng Quốc

Từ phê bình văn học đến phê bình văn hóa

Từ phê bình văn học đến phê bình văn hóa
Từ phê bình văn học đến phê bình văn hóa

Khi mới rời khỏi Việt Nam vào năm 1985, nhất là khi viết cuốn “Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản” (1991), tôi nghĩ, thứ nhất, nền văn học gọi là hiện thực xã hội chủ nghĩa từ năm 1945, và đặc biệt, từ năm 1954 trở đi là một nền văn học thất bại; và thứ hai, nguyên nhân của sự thất bại ấy chủ yếu xuất phát từ những sự lãnh đạo văn nghệ độc đoán và dốt nát của đảng Cộng Sản.

Sau đó, đọc nhiều và đọc khá kỹ văn học Việt Nam hải ngoại, tôi mới phát hiện ra hai điều khác: một là, văn học hải ngoại hình như cũng không khá hơn văn học trong nước bao nhiêu; hai là, những khuyết điểm trong văn học hải ngoại, lạ thay, lại rất giống với những khuyết điểm thường thấy ở văn học trong nước.

Chính sự phát hiện sau cùng này dẫn tôi đến một phát hiện khác: hình như những nguyên nhân đích thực khiến văn học Việt Nam lâu nay cứ bị bế tắc mãi không phải chỉ là vấn đề chính trị mà là, nếu không muốn nói chủ yếu còn là, vấn đề lịch sử và vấn đề văn hoá. Nói cách khác, dù đứng bên này hay bên kia "chiến tuyến", dù ở trong nước hay ở ngoài nước, dù theo cộng hay chống cộng, giới cầm bút Việt Nam cũng thường có một số thói quen giống nhau, một số cách suy nghĩ và cảm xúc giống nhau, đều có một số ưu điểm khá giống nhau và đều gặp phải một số những trở ngại và những hạn chế giống nhau. Thì cũng khát vọng làm những chứng nhân của lịch sử. Thì cũng niềm tin là văn chương, muốn cao cả, phải phục vụ một cái gì; muốn trường cửu, phải gần gũi với đại chúng và được đại chúng chấp nhận; muốn cảm động, phải xuất phát từ đáy lòng, nghĩa là phải thiết tha và thành thực; muốn đẹp, phải có thật nhiều... chất thơ; và muốn mới lạ, phải thêm chút ngổ ngáo trong ý tưởng, chút khinh bạc trong giọng điệu và chút gân guốc trong ngôn ngữ. Thì cũng lửng lơ giữa truyền thống và hiện đại: thích làm ra vẻ "Tây" để che giấu một tâm hồn thật "chân quê". Trước những sự giống nhau ấy, việc phê phán từng tác giả và từng tác phẩm cụ thể trở thành vừa trùng lặp vừa vặt vãnh và thừa thãi. Đó là lý do chính khiến tôi càng ngày càng chú ý nhiều hơn đến các yếu tố lịch sử và văn hoá đằng sau văn học.

Sự chuyển hướng ấy, vô tình, lại là một điều hay.

Từ trước đến nay, phê bình văn học Việt Nam thường chỉ có ba hình thức chính: (a) phê bình một tác giả, (b) phê bình một tác phẩm và (c) tổng kết một giai đoạn.

Cả ba hình thức ấy đều tập trung vào việc viết và người viết, do đó, trên nguyên tắc, chúng bất cập bởi vì trong sinh hoạt văn học còn có ba khía cạnh khác quan trọng không kém mà phê bình không thể bỏ qua: (a) việc đọc, (b) việc phê bình và (c) bao trùm lên tất cả, văn hoá văn chương, tức những quy ước và quy luật, những điều, một mặt, làm cho văn chương trở thành văn chương chứ không phải chỉ là một dạng truyền thông thuần tuý và đơn giản; mặt khác, làm cơ sở cho cả việc viết, việc đọc lẫn việc phê bình.

Hơn nữa, trên thực tế, ở Việt Nam, cả ba hình thức phê bình phổ biến ấy đều có rất ít chất phê bình, và càng ít hơn nữa, chất văn chương. Phần lớn các bài phê bình một tác phẩm của Việt Nam thực chất là những bài điểm sách, vừa sơ sài vừa đầy cảm tính, ít khi bám vào văn bản và cũng ít khi dựa vào một tiêu chuẩn thẩm mỹ nào nhất định hoặc cùng lúc dựa vào quá nhiều tiêu chuẩn khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, một cách hoàn toàn tự phát và bất nhất. Phê bình một tác giả thường có khuynh hướng thiên về giai thoại hoặc văn học sử, chủ yếu tập trung vào cuộc đời, vào đề tài của một số tác phẩm và vào một số đặc điểm trong tư tưởng tác giả, đặc biệt trong quan hệ với biến cố chính trị và xã hội chung của một thời đại. Những bài tổng kết một giai đoạn, hoặc giới hạn trong một năm hoặc mở rộng ra mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm, rồi hai mươi lăm năm, v.v... thường có tính chất xã hội học về văn học hơn là phê bình văn học: chúng nhắm vào văn nghệ hơn là văn học; trong văn học, chúng tập trung vào khía cạnh sinh hoạt hơn là tác phẩm; trong tác phẩm, chúng ôm đồm cả những tác phẩm biên khảo lịch sử, xã hội và hồi ký, phần lớn là những hồi ký chính trị, hơn là chỉ giới hạn trong các tác phẩm văn học; cuối cùng, đối với các tác phẩm văn học, chúng chỉ dừng lại ở việc liệt kê kèm theo một ít lời bình chú hơn là phân tích và đánh giá một cách nghiêm chỉnh.

Bởi vậy, không có gì lạ khi cả ba hình thức kể trên, mặc dù là những thể tài chủ đạo trong phê bình văn học Việt Nam, lại chỉ là những thể tài phụ trong phê bình văn học các quốc gia có trình độ phát triển cao trên thế giới. Phụ, theo ba nghĩa: một, chúng chỉ xuất hiện một cách hoạ hoằn; hai, chúng được xem như nghiêng về lãnh vực báo chí hoặc nghiên cứu văn học và giảng dạy văn học hơn là phê bình văn học; và ba, phần nhiều chúng được viết bởi giới ký giả hoặc học giả hơn là giới phê bình thực sự. Tìm cho ra được, trong danh sách tác phẩm của những nhà phê bình hàng đầu ở Tây phương trong ba bốn thập niên vừa qua, những cuốn sách phê bình về từng giai đoạn văn học hoặc những tuyển tập bao gồm nhiều bài viết khác nhau về các tác phẩm văn học cụ thể không phải là điều dễ.

Điều đó cũng có nghĩa là phê bình văn học trên thế giới từ mấy chục năm nay đã có một sự chuyển hướng rất rõ rệt. Nếu trước kia, với chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn, người ta xem tác phẩm văn học như một tấm gương phản ánh hiện thực hoặc như một nơi bộc lộ tâm tình và tư tưởng của tác giả; với Phê Bình Mới, hình thức luận và cấu trúc luận, người ta xem tác phẩm văn học như một chỉnh thể thẩm mỹ tự tại và được cấu trúc một cách chặt chẽ theo một số quy luật nhất định, thì sau này, với hậu cấu trúc luận và giải cơ cấu, quan niệm của phần đông giới phê bình đã thay đổi: họ xem cả tác phẩm lẫn tác giả đều là sản phẩm của một cái gì khác.

Đã đành tác giả là kẻ tạo ra tác phẩm; tuy nhiên, đến lượt hắn, tác giả, lại được tạo ra bởi những thế lực nằm ngoài tầm kiểm soát của hắn, trong đó nổi bật nhất là hai yếu tố: tiềm thức và ngôn ngữ.  Đặc biệt là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là sản phẩm của xã hội và của lịch sử; sử dụng ngôn ngữ, dù muốn hay không, chúng ta cũng phải chấp nhận vô số những quy ước văn hoá gắn liền với các yếu tố từ vựng, với quy luật về cú pháp cũng như với các biện pháp tu từ của ngôn ngữ đó. Khi chúng ta cầm bút, thực chất là bao nhiêu quy ước văn hoá mai phục bên trong ngôn ngữ ấy đang viết qua tay của chúng ta.

Tìm hiểu văn học, do đó, phần nào trùng lấp lên việc tìm hiểu văn hoá. Giữa hai lãnh vực này có một số điểm tương đồng rõ rệt.

Thứ nhất, cả hai đều liên hệ đến những phạm trù giá trị, đến những điển phạm (canon).

Thứ hai, ngay cả những giá trị và những điển phạm ấy cũng đều là những cái mã (codes), những quy ước được hình thành dần dần trong lịch sử và thay đổi theo từng góc nhìn khác nhau: cách nhìn của một người đàn ông khác cách nhìn của một người phụ nữ; cách nhìn của một tên thực dân khác cách nhìn của một người dân thuộc địa; cách nhìn của một người có "đời sống tính dục bình thường"  khác cách nhìn của một người đồng tính luyến ái, v.v...

Cuối cùng, với tư cách là những cái mã và những quy ước, cả văn học lẫn văn hoá đều là những hình thức diễn ngôn (discourse), những văn bản (text), ở đó, người ta có thể sử dụng một phương pháp phân tích chung. Chính vì thế, trong môi trường đại học, các môn nghiên cứu, phê bình và lý thuyết văn học thường được nhập chung với môn Văn Hoá Học (Cultural Studies); trong môi trường học thuật, lý thuyết văn học và lý thuyết văn hoá thường có một số lý thuyết gia chung, từ Mikhail Bakhtin đến Michel Foucault, từ Jacques Lacan đến Julia Kristeva, từ Jean-François Lyotard đến Marshall McLuhan, v.v...; hơn nữa, cả hai còn được nhập làm một dưới cái tên gọi suông là "lý thuyết". Chỉ là "lý thuyết" thôi. Chỉ là "theory" thôi.

Theo Jonathan Culler, trong cuốn Literary Theory, A Very Short Introduction (1997), cái gọi là "lý thuyết" ấy có bốn đặc điểm chính: một, tính chất liên ngành; hai, tính chất phân tích và tư biện liên quan đến những vấn đề như viết lách, ngôn ngữ, ý nghĩa, chủ thể và phái tính; ba, tính chất phê phán đối với những cách nghĩ thông thường, vốn xem mọi thứ đều là "tự nhiên"; và bốn, tính chất phản tỉnh, suy nghĩ về chính sự suy nghĩ, suy nghĩ về những yếu tố làm cho văn chương cũng như mọi hình thức diễn ngôn khác trở thành có ý nghĩa, v.v...

Gắn liền với việc nghiên cứu văn hoá và gắn liền với lý thuyết theo nghĩa vừa nêu, phê bình thoát hẳn ra khỏi tình trạng thưởng ngoạn hồn nhiên thường chỉ dừng lại ở việc trầm trồ từng chữ và bắt bẻ từng câu để khai quật những quan điểm mỹ học đằng sau tác phẩm và phanh phui cái cơ sở văn hoá dẫn đến việc hình thành các quan điểm mỹ học ấy.

Như vậy, tuy cũng nghiên cứu về văn hoá, nhưng nhiệm vụ của nhà phê bình khác hẳn nhiệm vụ của các nhà văn hoá.

Các nhà văn hoá vốn là những kẻ nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc học, của "trình độ văn hoá" với tham vọng cao nhất là chiếm lĩnh thật nhiều kiến thức thuộc nhiều lãnh vực khoa học xã hội khác nhau, từ ngôn ngữ đến lịch sử, văn học và triết học, nghĩa là biến thành một người học trò cực kỳ xuất sắc, một sản phẩm hoàn hảo của một nền văn hoá nhất định.

Các nhà phê bình thì khác. Phê bình là từ chối làm một sản phẩm thuần thành của văn hoá. Phê bình là đứng nhích ra, dù chỉ một chút, cái nền văn hoá đã tạo ra mình. Phê bình là hoài nghi, là tra vấn những gì vốn được văn hoá công nhận như những giá trị vĩnh cửu.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Diễn đàn này đã đóng.
Ý kiến
     
Chưa có ý kiến ​​trong diễn đàn này. Bạn hãy là người đầu tiên góp ý

Blog

Thân phận lưu vong: Sống ở giữa

Trong bài trước, tôi đề cập đến thân phận lưu vong như những người sống trên cái dấu gạch nối giữa hai quốc gia
Thêm

Tất cả chỉ là phương tiện

Dư luận trong ngoài nước đang xôn xao bàn tán về lá Thư ngỏ của 61 đảng viên CS, phần lớn là trí thức
Thêm

Mạng người rẻ bèo

Có người nói với tôi rằng, mối quan hệ giữa người với người là một mối quan hệ phức tạp và nguy hiểm
Thêm

Hãy cám ơn Trung Quốc

Cám ơn Trung Quốc còn vì lý do này nữa: Việc gây hấn ấy dập tắt ảo tưởng về người bạn '4 tốt' với '16 chữ vàng'
Thêm
Các bài viết khác

Bạn đọc làm báo

May mà còn nước Mỹ để đến

Điều lý thú ở đây là nhiều công dân ưu tú của các nước xã hội chủ nghĩa đã bỏ nước ra đi, và vùng đất lý tưởng mà họ đến luôn luôn là nước Mỹ
Thêm

Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt đang ở đâu?

Theo tôi nghĩ, thật khó lượng định quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hiện nay đang ở đâu
Thêm

Thông điệp McCain: 5 Sẵn sàng, 3 Nên và 1 Hy vọng

Trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua, các Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã tái khẳng định cam kết của Mỹ
Thêm

Ðảng viên CS Nguyễn Ðăng Trừng bị khai trừ, một bài học cho những đảng viên CS phản tỉnh nửa vời

Luật sư Nguyễn Đăng Trừng sinh năm 1942 tại Quảng Ngãi, học luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn
Thêm

Thực trạng Việt Nam: Vấn đề và Giải pháp

Thực trạng Việt Nam là chủ đề của vô số bài viết của các tác giả trong và ngoài nước
Thêm
Các bài viết khác
JavaScript của bạn đang tắt hoặc bạn có phiên bản Flash Player cũ của Adobe. Hãy trang bị Flash player mới nhất.
Cao su có thể chế tạo từ cây bồ công anhi
X
01.09.2014
Là nguồn gốc cung cấp cao su thiên nhiên, cây cao su dễ mắc bệnh và có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu. Vì vậy, các nhà khoa học đang tìm kiếm những chất liệu thay thế. Và có thể họ đã tìm thấy một chất liệu như vậy trong một loài cỏ dại mọc ở khắp nơi.
Video

Video Cao su có thể chế tạo từ cây bồ công anh

Là nguồn gốc cung cấp cao su thiên nhiên, cây cao su dễ mắc bệnh và có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu. Vì vậy, các nhà khoa học đang tìm kiếm những chất liệu thay thế. Và có thể họ đã tìm thấy một chất liệu như vậy trong một loài cỏ dại mọc ở khắp nơi.
Video

Video Tàu du lịch bị đắm ở Vịnh Hạ Long

Một tàu du lịch trên đó có 12 người nước ngoài và một hướng dẫn viên du lịch người Việt, đã chìm trong Vịnh Hạ Long vào chiều thứ Năm, nhưng theo nhà chức trách địa phương, tất cả đều được giải cứu
Video

Video Tư Lệnh Mỹ kêu gọi TQ hành động tương xứng vai trò lãnh đạo khu vực

Đô Đốc Samuel Locklear nói Trung Quốc nên hành động như một lãnh đạo khu vực và tiếp tay giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong Biển Đông
Video

Video Liên Hiệp Quốc: Số người tị nạn Syria đã lên tới 3 triệu

Liên Hiệp Quốc cho biết hơn 3 triệu người đã chạy để tránh cuộc nội chiến ở Syria, tạo nên một tình trạng mà cơ quan này mô tả là 'tình trạng khẩn cấp về nhân đạo lớn nhất trong kỷ nguyên của chúng ta'
Video

Video Malaysia Airlines cắt giảm nhân viên và đường bay

Malaysia Airlines, công ty hàng không hàng đầu của Malaysia đang bị thua lỗ, sẽ cắt giảm hàng ngàn nhân viên, tuyến bay và thay thế Tổng giám đốc theo kế hoạch nhằm giúp công ty có lời trở lại trong vòng 3 năm