Thứ hai, 22/12/2014
Xem

Blog / Trần Vinh Dự

Hãy chu cấp cho nàng vì nàng đẹp (phần 2)

Kinh tế học quan tâm đến hai khía cạnh của một thị trường - trong trường hợp này là thị trường mại dâm. Thứ nhất là từ góc độ thực nghiệm, kinh tế học tìm cách khảo sát các hiện tượng của thị trường này, phát hiện các nghịch lý, các điểm không dễ giải thích chỉ dựa vào cảm quan, các quy luật và các cách thức vận hành của thị trường mại dâm. Thứ hai, từ góc độ lý thuyết, kinh tế học đưa ra các giả thuyết và dựa trên các giả thuyết này để giải thích bằng các mô hình kinh tế các hiện tượng mà nghiên cứu thực nghiệm đưa ra.
 
Về mặt lý thuyết, trước khi nghiên cứu một hiện tượng, kinh tế học phải định nghĩa được hiện tượng đó là gì. Việc định nghĩa thế nào là mại dâm nhìn bề ngoài có vẻ đơn giản, nhưng thực tế không phải như vậy.
 
Trong từ điển tiếng Anh của Random House, mại dâm được hiểu là “một hành vi liên quan đến làm tình để đổi lấy tiền.” Thế nhưng theo cách nói của Edlund và Korn (2002) thì “một gái mại dâm không thể hiểu đơn thuần là một người phụ nữ bán thân xác mình vì, theo nhiều triết gia trong lịch sử, kể cả nhà Mác-xít luận Ăng Ghen, “việc này được thực hiện hàng ngày bởi những phụ nữ trở thành các bà vợ và vì thế có nhà cửa và một cuộc sống no đủ”.
 
Cũng theo Edlund và Korn, thời trung cổ có luật sư Johannes Teutonicus cho rằng một người phụ nữ có quan hệ tình dục với ít nhất 23 nghìn người đàn ông thì phải gọi là gái điếm, nhưng nếu một người phụ nữ quan hệ với 40-60 người thì cũng nên gọi như thế. Tuy nhiên, theo Edlund và Korn, phần lớn mọi người đều đồng ý rằng cặp kè hẹn hò nhiều không có nghĩa là một người trở thành gái/trai điếm. Thêm nữa, đưa ra một ngưỡng như 40 hay 23 nghìn sai lầm ở chỗ nó không bao gồm được những người làm mại dâm cao cấp.
 
Chính vì thế, Edlund và Korn đưa ra một định nghĩa mà theo hai bà là chính xác hơn, đó là: mại dâm là một hình thức bán tình dục không nhằm mục đích sinh đẻ, nhìn từ góc độ người mua dâm, để đổi lấy thu nhập.  Điều đó có nghĩa, từ phía người đi mua quan hệ tình dục, mục đích của họ là vui vẻ, chứ hoàn toàn không có mục đích có con, và họ trả tiền cho sự vui vẻ này. Nó khác với quan hệ tình dục trong gia đình là ít nhiều liên quan tới chuyện duy trì nòi giống.
 
Dựa trên định nghĩa này, Edlund và Korn đặt câu hỏi: tại sao có sự trênh lệch đáng kinh ngạc giữa nghề mại dâm và các ngành nghề khác? Theo rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành khắp nơi trên thế giới, mức thu nhập trung bình của người làm nghề mại dâm cao hơn nhiều so với các ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mức độ học vấn cao hơn. Thí dụ trong cuốn sách “Ngành công nghiệp tình dục: Khía cạnh kinh tế và các nền tảng xã hội của mại dâm ở Đông Nam Á” của Jones Gavin chủ biên (1998), các tác giả thống kê được rằng thu nhập trung bình của gái mại dâm ở Indonesia là khoảng từ US$1500 đến US$2500, cao gấp nhiều lần so với thu nhập của công chức và nhân viên văn phòng. Nagaraj và Yahya (1998) thống kê được thu nhập của nghề này ở Malaysia cao gấp 6 lần so với các ngành nghề trình độ thấp khác.
 
Ở các nước phát triển, cũng theo Edlund và Korn, báo chí đưa tin rằng gái mại dâm ở Thụy Điển kiếm được khoảng US$1750 mỗi ngày vào năm 1998, bằng mức thu nhập của một tháng của lao động không có trình độ. Theo báo The Economist (1998), một số phụ nữ làm nghề mại dâm ở khối Ả rập có thể kiếm được US$2000 một đêm. Còn theo một nghiên cứu của Parera (1995), gái mại dâm cấp thấp ở Barcelona (Tây Ban Nha) năm 1995 có thu nhập khoảng US$300 đến US$2000/ngày tùy số lần phục vụ trong khi những cô gái làm việc trong các tiệm saunas kiếm được từ US$1000 đến US$2000 mỗi ngày còn các cô gái gọi thì kiếm được US$1000 cho mỗi lần đi khách. GDP trên đầu người của Tây Ban Nha trong cùng năm là khoảng US$18800, tức là các cô gái bán dâm ở Tây Ban Nha chỉ cần làm việc khoảng 18 ngày là bằng thu nhập cả năm của một người Tây Ban Nha trung bình.

Không dễ để trả lời câu hỏi, hay đúng hơn là nghịch lý, này. Có nhiều cách giải thích, thí dụ do việc mại dâm là phi pháp. Tuy nhiên, hiện tượng thu nhập cao hơn đột biến của nghề này vẫn tồn tại ở rất nhiều nơi mại dâm được pháp luật công nhận là một ngành nghề hợp pháp. Vì thế khoảng cách thu nhập không thể giải thích bằng sự phi pháp của nghề nghiệp. Tính rủi ro của nghề nghiệp này cũng vậy. Nhiều hoạt động mại dâm, đặc biệt của mại dâm cao cấp như các diễn viên phim khiêu dâm, hoặc các người mẫu chụp ảnh khiêu dâm, hoặc gái gọi hạng sang, đều có mức độ rủi ro không cao. Một cách giải thích khác là nghề mại dâm có tuổi nghề ngắn. Nhưng việc này cũng không hợp lý nốt. Vì theo Edlund và Korn, những người hành nghề mại dâm phần nhiều là những người không đầu tư để nâng cao trình độ/kinh nghiệm làm việc ở các nghề nghiệp khác ngay cả nếu họ không làm mại dâm. Do đó, không thể giải thích mức thu nhập cao đột biến của họ như là một thứ bù đắp cho chi phí cơ hội mà họ phải đánh đổi để đi theo con đường mại dâm.
 
Lý thuyết của Edlund và Korn
 
Để trả lời câu hỏi: tại sao có sự trênh lệch đáng kinh ngạc giữa nghề mại dâm và các ngành nghề khác? Edlund và Korn xây dựng một lý thuyết về lựa chọn. Theo hai bà, một người phụ nữ không thể vừa làm mại dâm vừa lập gia đình. Uy tín của họ với tư cách là một gái mại dâm, hoặc đã từng là gái mại dâm, khiến họ ít có khả năng lập gia đình. Vì thế họ phải chọn một trong hai – hoặc là làm mại dâm và ít có khả năng lấy chồng, hoặc là làm các công việc bình thường.
 
Khi lập gia đình, các cặp vợ chồng sẽ có con, và con cái đem lại cho họ giá trị. Một người phụ nữ làm mẹ sẽ có thu nhập bình thường và hưởng giá trị từ việc có con cái, trong khi một người phụ nữ làm mại dâm sẽ chỉ có thu nhập từ mại dâm. Đàn ông hưởng giá trị từ việc có con cái, từ tiêu dùng, và từ tình dục thương mại trong khi phụ nữ chỉ hưởng giá trị từ tiêu dùng và từ con cái (một giả định mà chắc chắn nhiều người cho rằng mang tính thiên lệch về giới).
 
Từ hệ thống giả định này, không khó để Edlund và Korn chứng minh được thu nhập của gái mại dâm phải cao hơn thu nhập của những người phụ nữ không làm nghề mại dâm. Khoảng cách thu nhập này sẽ giảm dần theo sự chấp thuận của xã hội đối với nghề này – thể hiện ở chỗ những người phụ nữ làm mại dâm hoặc đã từng làm mại dâm có dễ lấy chồng hay không.
 
Ngoài kết luận khá hiển nhiên này, Edlund và Korn còn chứng minh được rằng xã hội sẽ luôn luôn có một số phụ nữ làm nghề mại dâm. Lý do là càng ít người làm nghề này thì do luật cung cầu, thu nhập từ mại dâm sẽ càng cao, và chắc chắn sẽ hấp dẫn với một số người. Edlund và Korn cũng chứng minh được rằng khi mặt bằng thu nhập của những người phụ nữ không làm nghề mại dâm tăng lên thì số người làm nghề mại dâm sẽ giảm, mặc dù không bao giờ biến mất hoàn toàn.
 
Edlund và Korn cũng chứng minh được một số kết quả lý thuyết khác khá thú vị. Thí dụ, với một số giả định tương đối bình thường, thu nhập của đàn ông càng tăng thì mại dâm cũng sẽ ngày càng giảm. Kết quả này tương đối thống nhất với một thực tế rằng tỷ lệ phụ nữ làm nghề mại dâm ở các nước phát triển nhìn chung thấp hơn ở các nước đang phát triển. Một kết quả khác nữa là ở những xã hội mà tỷ lệ nam – nữ bị lệch theo hướng nhiều nam và ít nữ - thì sẽ có nhiều phụ nữ làm mại dâm hơn. Lý do cũng tương đối dễ hiểu: những người đàn ông không lấy được vợ sẽ không được hưởng giá trị từ con cái, và vì thế sẽ tiêu dùng và mua dâm nhiều hơn. Khi số lượng những người đàn ông này càng nhiều thì giá cả của dịch vụ mại dâm sẽ càng cao và như thế càng thu hút được nhiều phụ nữ tham gia.

Nghiên cứu của Edlund và Korn có vai trò rất quan trọng với tư cách là lần đầu tiên chủ đề này được đăng tải trên một tạp chí đầu ngành của kinh tế học. Tiếp sau nghiên cứu này, có một số công trình khác tiếp tục đưa ra các ý tưởng mới. Một trong các công trình đó là của 3 nữ giáo sư Marina Della Giusta (University of Reading, UK), Maria Laura Di Tommaso (University of Turin, Italy), và Steinar Strom (University of Oslo, Norway) mang tên “Một lý thuyết khác về mại dâm” (Another theory of prostitution). (còn tiếp)

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Trần Vinh Dự

Trần Vinh Dự chuyên nghiên cứu, tư vấn, và viết về các vấn đề kinh tế của Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài lĩnh vực sở trường này, ông cũng thường xuyên viết về các vấn đề quan hệ quốc tế liên quan tới Á Châu. Trần Vinh Dự tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học tổng hợp Texas ở Austin, làm chuyên gia tư vấn kinh tế cho tập đoàn ERS Group Inc., đồng sáng lập và là cố vấn cho Quỹ nghiên cứu Biển Đông.
Diễn đàn này đã đóng.
Trình bày ý kiến
Ý kiến
     
bởi: Anti-VC
15.06.2012 13:38
Một Đại tá CA Hà Nội vừa phát biểu cho rằng có lẻ VN nên hợp pháp hóa vấn đề mãi dâm thì chính quyền có thể kiểm soát được. Các nước Âu châu phần lớn đều hợp pháp hóa mãi dâm và thu thuế các cô hành nghề mãi dâm, nếu VN làm như thế thì phải nói rằng loài Vẹm cũng biết học hỏi theo trào lưu tiến hóa đấy
Trả lời

bởi: of course
17.06.2012 07:17
Đó là lẽ tự nhiên của xã hội, có cấm nó tồn tại.

bởi: Bat Dong Y Kien từ: California
15.06.2012 05:04
Co nhieu diem can dat van de, rut ra tu bai nay. Mot trong cac diem do la, "duoc huong gia tri tu con cai." Da so cac bac cha me thoi nay co the noi la khong duoc huong gi tu con vi quan niem "cha me dat dau con ngoi do" da bi lung lay. Con cai thoi nay rat doc lap (neu khong noi la buong binh) va khong cho rang co bon phan "bao hieu" cha me. Cha me ngay nay nuoi con vat va bao nhieu nam (ton hang tram ngan do la My, theo researches cua My) de roi gan nhu phai hoan toan ton trong tu do ca nhan cua chung, ton trong, chieu chuong ca be ban, vo chong chung,. Cha me gan nhu khong con tieng noi ngay ca trong cac viec he trong lien quan den ca gia dinh, gia toc, neu khong se "mat ca con lan chau". Do la su that.

bởi: Thiếu Jia
14.06.2012 23:46
Kinh tế học quả là môn..tính toán nhức đầu, trong bài này chú Trần Vinh Dự cho thấy nhiều chi tiết mà trình độ như em khó mà nghĩ rộng ra được. Chú lại viết ngắn gọn, linh động thật hay mà không thiếu phần hấp dẫp, đọc dễ hiểu. Chả biết ở nước mình có ai mò ra mức thu nhập các chị ấy cao ngang đẳng cấp cán bộ nào, chứ vài lần tò mò đeo bám anh nhà báo chuyên xâm nhập mấy phố đèn đỏ thì xem ra đa phần thu nhập các chị ấy cỡ thượng úy, thiếu úy thôi mà chẳng được thế mãi,sống được cũng gay lắm vì linh tinh đủ thứ bảo kê đeo bám như đỉa không dứt ra được, lại còn hay ốm đau nữa chứ. Người ta gọi là "gái bán hoa" cũng đúng, vì có hoa nào mà tươi mãi đâu,chỉ ngắn ngày là héo tàn, hoa giấy hay hoa nhựa cũ thì cũng...vất thôi. Cho nên mới nói phần đông do hoàn cảnh, khi còn bé có ai biết mình phải như thế. Băng đảng bố em thường bị dân xỏ xiên "Lũ chúng nó điếm lắm!", nên em nghĩ không bền rồi cũng như....Liên Xô thôi.
Trả lời

bởi: Listener 3b
15.06.2012 10:06
Sorry, Thieu Jia (not Gia)! I like your comment!
Trả lời

bởi: Listener 3
15.06.2012 05:56
Excellent, Thieu Gia!
Trả lời

bởi: Thiếu Jia
16.06.2012 00:40
Cám ơn bác,nhức đầu vì....việc công,tư lâu lâu lẻn vào VOA hí hoáy em chỉ muốn tỉnh ngủ, còn những ý kiến như của bác thường giúp em tỉnh trí. Xưa bà em hay mắng "Mày chả ra làm sao, chỉ hóng hớt, cợt nhả chả ra đâu vào đâu". Nhưng thời buổi nhiễu nhương....quốc gia suy vong, thất phu vô dụng như em cũng phải cố mà có tiếng nói. Thật ra em chả nói cuộc thế như vầy tự nó cũng phải đổi thay, sẽ có ngày tới lượt em bị lay dậy...."Các đồng chí ấy đi hết rồi!". Khi ấy ngu gì mà phải chạy theo ai.

bởi: Listener 1
14.06.2012 23:00
TS Dự ơi, phần hai của bài này cũng rất hay nhưng có nhiều chỗ tôi không đồng ý được. Cái lập luận của Ăng Ghen, “việc này được thực hiện hàng ngày bởi những phụ nữ trở thành các bà vợ và vì thế có nhà cửa và một cuộc sống no đủ” thật là sai lầm. Thảo nào cái lý thuyết cộng sản mà ông ta và Các-Mác tạo ra cũng quái gỡ không kém. Người đàn bà lấy người đàn ông đâu phải chỉ vì muốn có cuộc sống kinh tế ổn định, mà họ chỉ làm theo quy luật âm dương – “Có âm dương có vợ chồng, dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê” (Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu).

Còn tay luật sư Johannes Teutonicus chắc mắc bệnh đầu to, cổ trướng khi định nghĩa gái điếm bằng số lượng đàn ông mà cô ta bán thân cho, với những con số khủng khiếp như “ít nhất 23 nghìn người đàn ông” hoặc “40-60 người thì cũng nên gọi như thế”.

Ngay cả cái định nghĩa của Edlund và Korn mà họ tưởng là chính xác hơn - “mại dâm là một hình thức bán tình dục không nhằm mục đích sinh đẻ, nhìn từ góc độ người mua dâm, để đổi lấy thu nhập”, cũng đầy sai sót. Theo định nghĩa này thì những cặp vợ chồng ngày nay muốn lấy nhau nhưng không muốn có con thì người đàn bà (hoặc thậm chí đàn ông) đều ở trong một quan hệ bán hoặc mua dâm, nhìn từ góc độ của người này hoặc người kia.

Ngày nay, nhiều cặp vợ chồng lấy nhau chỉ vì “mục đích vui vẻ, chứ hoàn toàn không có mục đích có con”, nhưng không vì thế mà đồng hóa quan hệ vợ chồng của họ với quan hệ mua bán dâm.
Những giải thích về sự chênh lệch trong thu nhập giữa “nghề” mại dâm và các nghề khác trong các xã hội và các nền kinh tế khác nhau cũng rất sai lạc. Đúng là mức thu nhập trung bình của một số người làm nghề mại dâm cao hơn nhiều so với các ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mức độ học vấn cao hơn, nhưng không phải tất cả gái mại dâm đều giàu có và hạnh phúc hơn những người làm các nghề khác. Những giải thích như “do việc mại dâm là phi pháp”, “tính rủi ro”, “tuổi nghề ngắn”, và ngay cả “lý thuyết về lựa chọn” của hai bà dường như đều có tính ngụy khoa học (pseudo-scientific). Không cần phải nghiên cứu sâu xa mới thấy rằng thu nhập của gái mại dâm không phải lúc nào cũng cao hơn thu nhập của những người phụ nữ không làm nghề mại dâm và chỉ có những gái mại dâm “ăn khách” mới kiếm được nhiều tiền mà thôi.
Còn cái lý thuyết cung cầu thì lúc nào cũng đúng, ngay cả với nghề mại dâm, chẳng có gì mới mẻ cả. Cái lập luận cho rằng “Khoảng cách thu nhập này sẽ giảm dần theo sự chấp thuận của xã hội đối với nghề này” cũng chỉ là một hệ luận của quy luật cung cung cầu mà thôi – nếu xã hội chấp thuận thì cung sẽ nhiều hơn cầu và giá sẽ giảm, chứ không phải tại vì những “phụ nữ làm mại dâm hoặc đã từng làm mại dâm có dễ lấy chồng hay không”.

Vâng, đúng là theo luật cung cầu, “nghề mại dâm sẽ giảm, mặc dù không bao giờ biến mất hoàn toàn” nhưng cái lập luận rằng “thu nhập của đàn ông càng tăng thì mại dâm cũng sẽ ngày càng giảm” thì hoàn toàn không hiểu nổi! Tỷ lệ phụ nữ làm nghề mại dâm ở các nước phát triển thấp hơn ở các nước đang phát triển không phải vì thu nhập của đàn ông cao lên mà vì thu nhập của chính phụ nữ cũng cao hơn và ổn định hơn. Điều này rất dễ hiểu, đâu cần phải nghiên cứu “sâu xa” như vậy? Nhưng thôi, dẫu sao các công trình nghiên cứu của họ cũng khá thú vị, dù có nhiều điểm rất ngụy khoa học, chủ quan và còn nhiều tranh chấp.

Trả lời

bởi: lãng tử quay đầu từ: hcm
16.06.2012 21:35
Rất đồng tình ý kiến của bác!
Trả lời

bởi: lãng tử quay đầu từ: hcm
19.06.2012 20:07
:) Em đồng tình ko phải vì đồng thuận hay cổ xúy cho hoat động mua bán dâm mà vì em cũng cùng ý kiến với bác Listener 1 ko đồng ý lắm với định nghĩa về việc mua bán dâm trong bài viết, vì đôi khi cũng chỉ "vui vẻ" thôi mà bị gán cho là mua bán dâm thì đúng là oan uổng quá :p
Trả lời

bởi: kim trọng
17.06.2012 07:15
Ngày xưa Thúy Kiều là con nhà gia giáo còn hành nghề mại dâm, huống gì bây giờ. Nhu cầu tình dục là tất yếu. Có cung ắt có cầu. Chẳng ai thần thánh hơn ai, ai mà chê gái chỉ là liệt dương.

Blog

Ý định của tác giả trong văn học

Đọc các bài phê bình, nhiều người băn khoăn: Hay thì hay, nhưng không biết tác giả có nghĩ vậy khi sáng tác hay không?
Thêm

Sự thành công của Uber và kinh doanh ứng dụng peer-to-peer

Chưa đầy nửa năm sau khi xuất hiện tại Việt Nam (chủ yếu tại Sài Gòn), Uber đã tạo ra một cơn bão truyền thông
Thêm

Bạn trẻ và du lịch khám phá

Du lịch trải nghiệm và khám phá, trong đó “phượt” là một hình thức điển hình và trào lưu nhất hiện nay
Thêm

Đài Loan: Hai khuôn mặt sáng

Đài Loan vừa trải qua một cuộc thay đổi chính trị khá sâu sắc. Bắc Kinh không hề dự kiến một cuộc đảo lộn tệ hại cho họ đến vậy
Thêm
Các bài viết khác

Bạn đọc làm báo

Để có một hiến pháp dân chủ

Việt Nam đang đứng trước khủng hoảng nghiêm trọng trong quan hệ với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc
Thêm

Cái bắt tay

Bạn tôi, một người Thái, sống ở Thái Lan, có nói với tôi: “Sao thủ tướng mày coi khinh thủ tướng tao thế?”
Thêm

Giá trị phổ quát và vĩnh cửu của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

Việc trả tự do trước thời hạn mãn án tù chắc chắn không phải là vì lý do nhân đạo của nhà cầm quyền Việt Nam, mà vì áp lực quốc tế nói chung
Thêm

Hồi hộp chờ đếm phiếu

Trong các kỳ bầu cử ở Mỹ, ngay đêm đếm phiếu hay qua sáng ngày hôm sau các ứng cử viên thường đã biết mình thắng hay thua
Thêm
Các bài viết khác
JavaScript của bạn đang tắt hoặc bạn có phiên bản Flash Player cũ của Adobe. Hãy trang bị Flash player mới nhất.
Mẫu chế tạo bằng máy in 3-D hỗ trợ cho việc mổ timi
X
21.12.2014
Công nghệ in 3 chiều hiện đang được áp dụng cho tim của người – nhưng không phải là tạo ra một trái tim mới – mà là tạo ra một mô hình giống y như trái tim thật. Công nghệ mới này có thể giúp các bác sỹ giải phẫu hiểu rõ hơn tình trạng của bệnh nhân trước một ca phẫu thuật.
Video

Video Mẫu chế tạo bằng máy in 3-D hỗ trợ cho việc mổ tim

Công nghệ in 3 chiều hiện đang được áp dụng cho tim của người – nhưng không phải là tạo ra một trái tim mới – mà là tạo ra một mô hình giống y như trái tim thật. Công nghệ mới này có thể giúp các bác sỹ giải phẫu hiểu rõ hơn tình trạng của bệnh nhân trước một ca phẫu thuật.
Video

Video Trung Quốc tiếp tục tăng cường sức mạnh hàng hải

Trung Quốc sẽ thiết lập một hệ thống giám sát ngoài khơi bao gồm các trạm vệ tinh-radar nhằm tăng cường sức mạnh hàng hải quốc gia, một động thái có thể làm gia tăng căng thẳng tranh chấp Biển Đông
Video

Video Việt Nam giải cứu 12 công nhân trong vụ sập hầm thủy điện

12 người bị mắc kẹt trong vụ sập hầm thủy điện ở Lâm Đồng được cứu sống hôm 19/12 sau 4 ngày nỗ lực giải cứu
Video

Video Việt Nam sắp mua tàu chiến của Ấn Độ

Ấn Độ sắp cung cấp các tàu chiến cho Việt Nam trong lúc Hà Nội đang tìm cách hiện đại hóa quân sự và tăng cường khả năng quốc phòng trước các động thái lấn lướt của Trung Quốc ở Biển Đông
Video

Video Nghiên cứu: Người dân toàn cầu sống thọ thêm được 6 năm kể từ năm 1990

Tuổi thọ toàn cầu đã tăng thêm sáu năm kể từ năm 1990 nhờ tỉ lệ tử vong vì ung thư và bệnh tim ở các nước giàu giảm xuống và tỉ lệ sống sót những bệnh tiêu chảy, bệnh lao và sốt rét cao hơn ở những nước nghèo