Đường dẫn truy cập

Ở Úc, mỗi học kỳ (semester) kéo dài 12 tuần. Các đề luận văn thường được thầy, cô giáo phát vào những tuần lễ thứ ba hay thứ tư. Sinh viên thường có khoảng từ 4 đến 5 tuần để viết. Nhìn hạn nộp (due date) xa như thế, rất nhiều sinh viên đâm ỷ lại, cứ lần khân không chịu bắt đầu ngay. Đó là một sai lầm rất trầm trọng. Bởi vì đến những tuần lễ cuối cùng của học kỳ, sinh viên không phải chỉ nộp một mà là ba bốn bài luận văn của nhiều môn học khác nhau. Rồi phải viết bài thuyết trình. Đối với một số môn học, sinh viên phải làm bài kiểm tra giữa học kỳ, v.v.. Tất cả những công việc ấy dồn lại sẽ thành một gánh nặng mà nhiều sinh viên không kham nổi. Hậu quả là họ phải vội vàng rút bớt môn học hoặc chấp nhận rớt. Nhưng như vậy thì thời gian để hoàn tất chương trình cử nhân lại sẽ dài ra.

Để tránh gánh nặng phi lý ấy, cách tốt nhất là biết sắp đặt thì giờ và bắt đầu công việc viết luận văn ngay sau khi nhận được đề chứ không đợi đến năm bảy ngày trước hạn nộp. Việc bắt đầu sớm như thế không những có lợi là tránh tình trạng ối đọng công việc về sau mà còn có cái lợi khác nữa là có đủ thời gian để nghiền ngẫm đề tài, để tiêu hoá lượng kiến thức liên quan đến đề tài.

Nhưng trước khi bắt đầu, sinh viên phải quyết định là mình sẽ chọn đề tài nào.

1. Chọn đề tài

Ở đại học, các thầy cô giáo thường cho khá nhiều đề để sinh viên lựa chọn. Kinh nghiệm cho thấy: thoạt đầu, đọc các đề ấy, sinh viên không hề thấy gì ngoài cái ấn tượng là đề nào cũng khó và cũng khô khan. Điều này tương đối dễ hiểu. Thứ nhất, đề luận thường liên quan đến các bài học mà các bài học thì được rải đều trong cả học kỳ. Như vậy vào thời điểm nhận đề luận (thường là vào tuần thứ ba hay thứ tư của học kỳ), có rất nhiều đề tài sinh viên chưa hề học, thậm chí chưa hề nghe, chưa hề biết bao giờ cả. Thứ hai, ngay cả đề luận văn liên quan đến một vấn đề đã được giảng xong, nó cũng không vì thế mà dễ hơn những đề khác. Lý do là khi soạn đề luận văn, các thầy cô giáo thường có khuynh hướng tránh những loại đề chỉ cần sinh viên chép lại hay xào xáo lại các kiến thức cũ ghi nhận trong lớp. Đề luận văn ở đại học thường tương đối phức tạp. Lời giải đáp cho vấn đề được đặt ra có thể đã có, hơn nữa, có thể đã có nhiều, nhưng chúng nằm rải rác trong nhiều tài liệu khác nhau, bàng bạc trong nhiều bài viết khác nhau, chứ không có sẵn để sinh viên chỉ cần tìm đọc và diễn đạt lại.

Vấn đề là: sinh viên căn cứ vào đâu để quyết định là mình sẽ viết về đề tài nào?

1.1. Cơ sở để chọn đề

Sinh viên có thể dựa trên hai cơ sở chính:

1.1.1. Tài liệu hướng dẫn về môn học (subject/unit guide) mà thầy cô phát cho sinh viên vào đầu học kỳ. Trong các tài liệu hướng dẫn ấy, các thầy cô giáo không chỉ ghi rõ là tuần lễ nào học bài gì mà thường còn mô tả những vấn đề chính sẽ được trình bày và thảo luận về bài học ấy. Tuỳ theo từng thầy cô giáo, sự mô tả sẽ sơ lược hay là chi tiết. Tuy nhiên dù sao chúng cũng đủ cung cấp cho sinh viên một số thông tin tối thiểu để có thể hình dung ít nhiều về bài học. Nếu cần, sinh viên có thể đọc liếc qua những tài liệu căn bản, cần đọc mà thầy cô giáo đã ghi sẵn cho tuần lễ ấy.

1.1.2. Kiến thức phổ thông có sẵn của mình. Một vấn đề mà chúng ta đã có chút kiến thức, dù là rất mỏng, dù sao cũng dễ hơn là đề tài mà chúng ta hoàn toàn chưa có chút ý niệm gì cả.

1.2. Tiêu chuẩn chọn đề

Trên hai cơ sở trên, sinh viên có thể dùng ba tiêu chuẩn sau đây để chọn đề luận văn:

1.2.1. Sở thích. Nếu có thể được thì nên chọn những đề tài mình thích nhất. Ví dụ, nếu có ba đề luận văn chương liên quan đến ba tác giả khác nhau, thì ưu tiên số một sẽ là đề tài liên quan đến tác giả mình thích nhất. Nếu mình chưa có ý niệm gì về ba tác giả ấy thì chọn theo lãnh vực: giả dụ mình thích thơ thì chọn một nhà thơ, thích tiểu thuyết thì chọn một nhà tiểu thuyết, v.v..

1.2.2. Khả năng của mình. Ví dụ, có hai đề: Đề thứ nhất yêu cầu điểm một cuốn sách (book-review); và đề thứ hai điểm một cuốn phim (film-review). Một người còn yếu tiếng Anh dĩ nhiên nên chọn đề thứ nhất. Lý do đơn giản là, trong trường hợp ấy, đọc một cuốn sách dễ hơn là nghe trọn vẹn một cuốn phim. Đọc sách, có chỗ nào không hiểu, chúng ta có thể đọc lại, có thể tra từ điển, có thể ngẫm nghĩ từ từ. Còn xem phim, nhất là những cuốn phim chúng ta chỉ có thể xem trong một thời gian ngắn, không phải dễ. Càng không dễ khi, để phê bình nó, chúng ta cần phải hiểu rõ để trích dẫn từng câu đối thoại quan trọng.

1.2.3. Tình hình tài liệu. Chúng ta cần phải kiểm tra trước khi quyết định chọn một đề nào là: trong thư viện của đại học cũng như các thư viện công cộng gần chúng ta có nhiều sách, báo liên quan đến đề tài ấy hay không. Công việc kiểm tra này rất dễ dàng: chỉ cần xem số tài liệu tham khảo các thầy cô giáo cho, hoặc xem trong máy điện toán tại thư viện, phần mục lục sách sắp theo chủ đề (subject). Ở đây cần chú ý là: cùng lúc với mình, có cả hàng trăm hay hàng chục sinh viên cũng có thể cần sử dụng tài liệu ấy. Cho nên, nếu tài liệu hiếm, nó cũng có nghĩa là rất hiếm. Tài liệu chỉ được coi là dồi dào khi: có nhiều tên sách liên quan đến đề tài; mỗi tên sách có được hai, ba bản trong thư viện hoặc có thể được đọc dưới hình thức ebook; một số sách, báo cần thiết nhất đã được cất trong khu 'Lưu trữ' (Reserve) tại thư viện để không ai có thể giữ nó quá lâu.

Trong ba tiêu chuẩn trên, tiêu chuẩn cuối cùng (về tài liệu) là quan trọng nhất. Theo tiêu chuẩn chấm bài ở đại học, khó có ai có thể viết được một bài luận văn đặc sắc với một nhúm tài liệu trong tay.

Sau khi chọn đề xong, có ba công việc cần tiến hành càng sớm càng tốt, đó là:

  • phân tích đề
  • động não về đề tài
  • phác hoạ dàn bài sơ khởi

2. Phân tích đề

Mục tiêu của việc phân tích đề là để hiểu rõ chủ đích của người ra đề, yêu cầu của đề, trên cơ sở đó, xác định những vấn đề mình sẽ phải giải quyết trong bài luận văn. Công việc này sẽ giúp sinh viên tránh được một khuyết điểm đáng tiếc rất thường thấy: lạc đề, hoặc đỡ hơn một chút, lòng vòng chung quanh đề.

2.1. Ý nghĩa:

Phân tích đề thực chất là phân tích ba yếu tố hàm chứa sẵn trong đề: (a) phần mệnh lệnh, (b) phần nội dung và (c) phần giới hạn nội dung. Phần nội dung và phần giới hạn nội dung tức là cái vấn đề cần phải được giải quyết. Phần mệnh lệnh sẽ cho chúng ta biết cụ thể chúng ta sẽ phải làm gì. Ví dụ:

Ví dụ 1:

Mệnh lệnh: (Hãy) phân tích
Nội dung: ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái kinh tế những năm 1929 và 1930
Giới hạn nội dung: đối với người thất nghiệp tại Úc


Ví dụ 2:

Mệnh lệnh: (Hãy) đối chiếu
Nội dung: quan niệm của các nhà mác xít (Marxists) và các nhà chức năng luận (functionists)
Giới hạn nội dung: về vấn đề gia đình

Ví dụ 3:

Mệnh lệnh: (Hãy) so sánh
Nội dung: phong cách trào phúng
Giới hạn nội dung: trong thơ của Nguyễn Khuyến và của Trần Tế Xương


Cấu trúc ba phần: mệnh lệnh + nội dung + giới hạn nội dung như trên là dạng hoàn chỉnh nhất của đề luận văn. Trên thực tế, tuỳ từng thầy cô giáo, cấu trúc trên có thể có một số biến dạng. Chủ yếu là theo các dạng sau đây:

a. Phần mệnh lệnh nằm sau cùng. Ví dụ:

  • “Có phải chúng ta đang chứng kiến cái chết của gia đình? Thảo luận.”

Có khi ở phần nội dung, thay vì nêu ra một câu hỏi như trên, thầy cô giáo có thể đưa ra một lời phát biểu của ai đó, ví dụ:

  • “Một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất của chủ nghĩa thực dân là đã góp phần tạo nên một hệ thống nhà nước hiện đại tại các quốc gia Đông Nam Á.” Anh / chị có đồng ý với nhận định này hay không?

    • “Văn hoá không phải chỉ là toàn bộ những công trình tưởng tượng hay trí thức, nó còn, hơn nữa, chủ yếu còn là toàn bộ phong cách sống của một dân tộc.” (Raymond Williams). Hãy nhận xét về quan niệm trên và hãy đánh giá ý nghĩa của nó trong các lý thuyết văn hoá đương đại.

    • “Người ta có thể hiểu lịch sử nước Úc qua việc khảo sát mối quan hệ giữa nó với các siêu cường quốc trên thế giới.” (Abe David và Ted Wheelwright). Hãy nhận định về lời phát biểu này và cho biết ý kiến của anh / chị về tương lai của Úc tại vùng châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt trên các phương diện chính trị, kinh tế và văn hoá.


    b. Cả phần mệnh lệnh, phần nội dung và giới hạn nội dung được cô đọng lại thành một câu hỏi. Ví dụ:

    • Các nhà nước hiện đại tại vùng Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa quốc gia trong quá khứ đến chừng mức nào?

    • Vai trò của nước Úc trong vùng châu Á Thái Bình Dương ra sao?

    • Anh / chị hiểu thế nào về thuật ngữ 'Orientalism' của Edward Said? Quan niệm ấy có cần thiết trong ngành Á châu học hiện nay không? Tại sao?

    • “Khi nghe những lời phát biểu về bản sắc của dân tộc, chúng ta không nên hỏi là nó đúng hay sai, mà nên hỏi là những nhận định ấy của ai và chúng nhắm đến mục đích gì, phục vụ cho những lợi ích gì, của ai.” (Richard White, Inventing Australia). Anh chị nghĩ gì về các cuộc tranh luận về vấn đề bản sắc. Hãy thảo luận về chức năng của nó.

    c. Mệnh lệnh hoàn toàn vắng mặt. Ví dụ:

    • Cấu trúc luận (structuralism) và hậu cấu trúc luận (post-structuralism).

    • Chủ nghĩa hiện đại (modernism) và chủ nghĩa hậu hiện đại (post-modernism).

      • Chủ nghĩa quốc gia và vấn đề bản sắc dân tộc.

      • Những sự thay đổi về kinh tế và xã hội tại các quốc gia Đông Nam Á trong thời kỳ thuộc địa.

      • Phản ứng của nước Úc trước sự lớn mạnh của các con rồng Á châu từ mấy thập niên gần đây.

      Không có mệnh lệnh rõ ràng, tuy nhiên, nếu tinh ý, sinh viên sẽ hiểu ngay là thầy cô giáo đang đòi hỏi mình phải làm gì. Với những đề tài gồm một nhận định (như hai đề sau cùng), yêu cầu chính là phân tích. Với những đề tài bao gồm hai vế song song với nhau (như ba đề đầu), yêu cầu chính là so sánh.

      2.2. Các kiểu luận văn

      Qua các ví dụ trên, chúng ta thấy lời mệnh lệnh trong đề luận văn thay đổi theo nhiều kiểu khác nhau: ‘hãy phân tích’, ‘hãy thảo luận’, ‘hãy so sánh’, v.v.. Đó là điều sinh viên cần chú ý một cách đặc biệt để tránh bị lạc đề. Sau đây là ý nghĩa của những từ thường được dùng trong phần mệnh lệnh:


      Định nghĩa (Define): Giải thích một từ hay một thuật ngữ. Cần đặt từ hay thuật ngữ ấy vào những phạm trù (category) hay những loại (class) thích hợp. Cũng cần cả việc khu biệt (differentiate) từ và thuật ngữ ấy với những từ và thuật ngữ khác tương cận. Ở bậc đại học, loại đề này thường chỉ yêu cầu sinh viên so sánh những định nghĩa khác nhau về cùng một sự kiện hoặc hiện tượng để chọn một định nghĩa tương đối hợp lý hơn cả.
      So sánh (Compare): Nêu lên những sự giống nhau và khác nhau giữa hai sự kiện, sự vật, hoặc giữa hai tư tưởng, hai lý thuyết.
      Đối chiếu (Constrast): Giống như so sánh, nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào những sự khác biệt hơn là những sự tương đồng.
      Giải thích (Explain): Phân tích để làm sáng tỏ ý nghĩa của một vấn đề hay những nguyên nhân chính quyết định sự hình thành hay phát triển của một sự kiện.
      Miêu tả (Describe): Trình bày một sự kiện hay một sự vật nào đó. Không cần giải thích lý do tại sao nó như thế này mà không như thế kia. Thường, người ra đề chỉ cần sinh viên nêu bật lên được những điểm chính.
      Phân tích (Analyse): Chia vấn đề ra thành từng phần nhỏ để dễ khảo sát bản chất, đặc điểm, chức năng của nó, và đặc biệt mối tương liên giữa các phần nhỏ ấy với nhau.
      Phê bình (Criticize): Đánh giá.
      Thảo luận (Discuss): Đưa ra lý lẽ và bằng chứng để bênh vực hoặc để chống lại một ý kiến nào đó.

      Trong đề luận văn, các thầy cô giáo thường dùng một trong các từ trên. Những từ ấy có ý nghĩa khác nhau như đã trình bày. Tuy nhiên, nên chú ý là không có hoạt động nào lại hoàn toàn độc lập, không có quan hệ ít nhiều với các hoạt động khác. Ví dụ: làm sao chúng ta có thể đánh giá một điều gì mà không cần phải miêu tả nó hay phân tích những ý kiến, những sự đánh giá khác nhau về nó? Hay làm sao chúng ta có thể so sánh hai lý thuyết khác nhau mà không cần phân tích những điểm chính trong hai lý thuyết ấy hoặc ít nhất là định nghĩa chúng? Như vậy, sự phân chia ở đây chỉ có tính chất tương đối.

      Trong số các kiểu đề luận văn dẫn trên, có ba kiểu phổ biến nhất ở đại học: phân tích, so sánh, và thảo luận. Kiểu thứ ba hình như càng ngày càng có khuynh hướng được dùng nhiều. Cũng nên chú ý là những kiểu đề luận này có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn:
      - Là gì? (What?).
      - Bằng cách nào....? (In what ways?).
      - Như thế nào? (How?)
      - Tới mức độ nào...? (How far?)
      - Tại sao? (Why?)
      - Anh / chị nghĩ gì về... ? (What do you think of?)

      3. Diễn dịch đề

      Sau khi phân tích đề, chúng ta cần diễn dịch (interpret) ý nghĩa của đề bằng cách viết lại yêu cầu và nội dung của đề ấy một cách thật giản dị.

      Ví dụ, với đề: “Có phải chúng ta đang chứng kiến cái chết của gia đình hay không? Thảo luận”, chúng ta có thể diễn dịch như sau:

      Hiện nay, trước sự tăng vọt của các vụ ly dị cũng như trước sự bộc phát của vấn đề đồng tính luyến ái, hình thức gia đình truyền thống trong đó có một chồng, một vợ và con cái đang dần dần bị tan vỡ. Thế vào đó là cảnh những người đồng tính sống chung với nhau, hoặc hai người khác phái sống chung với nhau một cách tạm bợ, không có một sự cam kết lâu dài nào cả. Từ sự thay đổi này, một số người cho là hình thức gia đình truyền thống đang chết dần. Sự thực ra sao?

      Tại sao phải viết lại lời diễn dịch như thế? Có ba lý do chính. Thứ nhất là nó tạo cơ hội cho chúng ta nghiền ngẫm thêm về đề tài. Thứ hai, nó giúp chúng ta nhập tâm yêu cầu và nội dung của đề. Cuối cùng, thứ ba, nó giúp chúng ta dễ dàng kiểm tra lại xem cách hiểu của chúng ta về cái đề ấy có chính xác hay không.

      4. Động não về đề tài

      Sau khi diễn dịch đề, nên dành một số thì giờ để tập trung suy nghĩ về đề tài. Tốt nhất là nên chia ra làm nhiều lần, mỗi lần khoảng 30, 40 phút. Cách động não nhiều người cho là có hiệu quả nhất là cách viết nguệch ngoạc trên giấy tất cả những gì hiện ra trong đầu. Không cần sắp đặt. Không cần đi vào chi tiết. Không cần diễn ra thành văn. Cứ viết từng từ, từng cụm từ một. Viết rời rạc, viết tản mạn, viết lung tung: cũng được nữa. Điều quan trọng là cứ viết. Chủ yếu là để khơi gợi óc liên tưởng, để kích thích tiềm thức của chúng ta làm việc.

      Ví dụ, với đề “Có phải chúng ta đang chứng kiến cái chết của gia đình hay không? Thảo luận” ở trên, chúng ta có thể viết:

      Gia đình
      1 vợ + 1 chồng + con cái chung của hai người
      1 vợ + 1 chồng + con riêng và con chung
      Một mình nuôi con (single mum/dad)
      tiểu gia đình
      đại gia đình
      nông nghiệp / công nghiệp
      nông thôn / thành thị
      lao động trí óc / lao động chân tay
      vai trò của người phụ nữ
      phong trào nữ quyền
      giải phóng tình dục
      ly dị
      đồng tính luyến ái
      sự chung thuỷ
      luật pháp

      5. Làm dàn bài sơ khởi

      Giai đoạn kế tiếp, chúng ta cố gắng nối kết các từ hay cụm từ ghi chép được một cách ngẫu nhiên trong giai đoạn động não lại với nhau. Nối kết có nghĩa là (i) phát hiện những từ cùng nhóm; (ii) phân biệt ý chính và ý phụ, ý mẹ và ý con; (iii) tìm hiểu mối quan hệ nhân quả hay quan hệ logic giữa các nhóm.


      Cuối cùng, sắp xếp tất cả các ý ấy lại với nhau, chúng ta có một dàn bài sơ khởi, đại khái như sau:

      1. Hai hình thức chính của gia đình:
        1. Đại gia đình (extended family)
        2. Tiểu gia đình (nuclear family)
      2. Những yếu tố có ảnh hưởng đến gia đình:
        1. Sinh hoạt kinh tế: công nghiệp hay nông nghiệp
        2. Môi trường sinh sống: nông thôn hay thành thị.
        3. Ý thức về quyền cá nhân
      3. Những biến đổi trên thế giới từ mấy thập niên gần đây:
        1. Sự ra đời của thuốc ngừa thai.
        2. Phong trào giải phóng tình dục.
        3. Phong trào nữ quyền (feminism)
        4. Xu hướng toàn cầu hóa (globalization)
      4. Những biến đổi trong phạm vi tiểu gia đình:
        1. Thay đổi về kích thước: Nó nhỏ hơn trước vì mức sinh sản bị hạn chế.
        2. Thay đổi về quyền lực: Người phụ nữ được độc lập hơn nhờ đi làm.
        3. Thay đổi về chức năng: Không còn là đơn vị sản xuất mà chủ yếu chỉ còn là một đơn vị tiêu thụ về kinh tế; không còn là một đơn vị nuôi dạy trẻ (đã có nhà trẻ và nhà trường lo), v.v...
        4. Thay đổi về giá trị: Nó ít bền vững vì sự gia tăng của các vụ ly dị.
      5. Một số biến tướng của gia đình hiện nay:
        1. Nơi hai người đồng tính chung sống công khai với nhau.
        2. Nơi hai người khác phái chung sống với nhau sau khi đã từng ly dị.
        3. Nơi chỉ có hoặc bố hoặc mẹ nuôi con.
      6. Nhận định:
        1. Bi quan: gia đình đang tan rã.
        2. Lạc quan: dù có sự thay đổi ở một số khía cạnh, gia đình vẫn tồn tại và sẽ còn tồn tại mãi.
      7. Kết luận: ?

      Dàn bài sơ khởi trên chưa đầy đủ? Không sao cả. Chúng ta sẽ dần dần bổ sung sau. Nó chưa chính xác? Cũng không sao. Chúng ta sẽ dần dần sửa chữa. Điều quan trọng là chúng ta cần có một dàn bài sơ khởi như thế để (i) làm chỗ dựa từ đó chúng ta suy nghĩ tiếp; (ii) làm cái sườn để căn cứ vào đó chúng ta dễ tìm tài liệu. Có cái sườn ấy, chúng ta mới biết chúng ta cần tìm cái gì trong hàng trăm ngàn cuốn sách bày đầy trong thư viện. Chẳng hạn, từ dàn bài sơ khởi về vấn đề gia đình ghi trên, chúng ta sẽ tìm thêm tài liệu về:
      - Hình thức đại gia đình và tiểu gia đình có quan hệ với kinh tế, khoa học kỹ thuật và môi trường sinh sống của con người ra sao?
      - Hình thức đại gia đình biến thành tiểu gia đình ra sao? và từ bao giờ?
      - Thuốc ngừa thai ra đời từ bao giờ? Ảnh hưởng?
      - Phong trào giải phóng tình dục cụ thể ra sao? Ảnh hưởng?
      - Phong trào nữ quyền là gì? Ảnh hưởng?
      - Tỉ lệ sinh sản thay đổi ra sao trong lịch sử?
      - Con số ly dị thay đổi ra sao?
      - Con số phụ nữ có việc làm toàn thời?
      - Con số những người đồng tính luyến ái sống chung với nhau?
      - Những ai cho là gia đình đang tan rã?
      - Những ai chống lại ý kiến trên?
      - Có những ai có ý kiến gì khác?
      - v.v...


      6. Ví dụ:

      Dưới đây, tôi xin nêu một số đề luận văn của môn ASI2003 Many Vietnams: War Culture and Memory tại trường Victoria University trong năm 2013 làm ví dụ. Đề luận bao gồm các chi tiết cần thiết liên quan đến việc viết và nộp bài:

      ESSAY TOPICS
      2013


      Date due: Week 10, COB Thursday 9 May 2013
      Length: Approximately 2,000 words (but not to exceed 2,500 words).
      Weighting: The essay is worth 40% of the overall marks for this subject.
      Extensions: Extensions will be granted only in exceptional circumstances and must be applied for at least two day’s before the submission date.
      Place to submit: Tuan Nguyen’s letterbox on level 2, building E.
      Format: Essays should be typed, with DOUBLE SPACING.

      All quotations must be acknowledged in the appropriate style. If you paraphrase you should also indicate the source of ideas or information.

      Essays must contain a bibliography, properly set out.

      Essays should be accompanied by appropriate cover sheet.

      Topics: Choose one of the topics listed below. Students may design their own topic, but this must be approved by your tutor well in advance of the due date.

      1. According to Marilyn Young, “[m]ore divisive than any conflict Americans have engaged in since the Civil War, the Vietnam War raised questions about the nation’s very identity. These questions have not been settled. The battle over interpreting the Vietnam war is a battle over interpreting America and it continues to the present day.” (Quoted in Heonik Kwon, Ghosts of War in Vietnam, Cambridge University, 2008, p. 13). Discuss.

      1. How did images and information become central to the exercise of political power during the Vietnam War? Discuss the role of the media in the Vietnam War.

      1. In After Vietnam: Legacies of a Lost War (The John Hopkins University Press, 2000, p. 40), Charles E. Neu states: “Hollywood played a crucial role in projecting the Vietnam metaphor onto screens across the nation.” Discuss with special reference to at least TWO films.

      1. “The Vietnam War changed everything because it changed the way we looked at everything.” Discuss.

      1. Drawing on details and quotations from TWO novels by Vietnamese writers, analyse the way in which they interpret the Vietnam War.

      1. The American President, Mr George W. Bush, stated in August 2007 that “Whatever your position in that debate, one unmistakable legacy of Vietnam is that the price of America’s withdrawal was paid by millions of innocent citizens whose agonies would add to our vocabulary new terms like ‘boat people,’ ‘re-education camps,’ and ‘killing fields.’” (The New York Times 22 August 2007, http://www.nytimes.com/2007/08/22/world/middleeast/22prexy.html?_r=1&oref=slogin). Discuss the consequences of the Vietnam War in Vietnam.

      1. “The Vietnam War has not ended for the nation of Vietnam nor its people”. More than 37 years after it ended why should this be the case? (In your answer you can address one or more of the following aspects: The Diaspora, health or ecological effects or the consequences of one party rule in Vietnam.)

      Notes: A MINIMUM of EIGHT different sources should be referred to directly and substantively in your essay.

      Films presented during the course may not be used.

      References: Many of the sources you need for your essay can be found in the “Course Readings” booklet. However, you are expected to search for additional references in the Victoria University and/or other libraries. (See the Unit Guide for examples of further reading and for an electronic bibliographic guide.)

      Assessment: Your essay will be assessed on the basis of the following criteria:

      1. The depth of your knowledge of the topic (a wide range of research should be evident in the essay);
      2. How effective your analytical abilities are;
      3. How well you construct your argument;
      4. How relevant is the evidence used to support your ideas;
      5. How well your essay accords with the standards of presentation recommended in the faculty essay writing guide and the essay requirements (e.g. the style of referencing; the number of referent sources, etc); and
      6. The quality of your academic written expression.

      See also the section on assessment in the Unit Guide.

      * Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Hiển thị bình luận

XS
SM
MD
LG