Đường dẫn truy cập

Hỏi đáp Y học: Bệnh Multiple Sclerosis (MS) (đa xơ cứng)


Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Thính giả Tuệ Phạm ở Buffalo, New York, hỏi:

“Thưa Bác sĩ

Mẹ tôi, năm nay 65 tuổi, bị bệnh mà các bác sĩ chẩn đoán là bệnh MS.

Xin được hỏi mấy điều sau đây:

1.Bệnh MS là bệnh gì, nguồn gốc gây bệnh có yếu tố di truyền không?
2.Tiên lượng thế nào, y học hiện đại có cách nào chữa lành chăng?
3.Hiện giờ bác sĩ cho đúng hai loại thuốc là: (i) Sertraline HCL 25 mg, 1 viên/ngày; (ii) CARBIDOPA-LEVO 50-200, 2 viên/ngày.

Bệnh khởi phát từ năm 2010, lúc đầu chỉ bị hơi yếu tay chân, nay không thể tự đi lại, ăn nuốt khó khăn làm cho ho, sặc rất khổ sở.

Tiến bộ y học mới nhất có phương cách gì giúp chữa lành hay ít ra giúp cải thiện bệnh tình, giảm nhẹ nỗi khổ bệnh tật này không?

Xin cảm ơn Bác sĩ."

Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:

Bệnh MS

Cũng như mọi khi tôi xin nói rõ trước là những nhận xét sau đây chỉ có tính cách thông tin tổng quát, không áp dụng cho cá nhân và không có mục đích giúp thính giả tìm cách tự chữa bệnh.

Bệnh này gọi là Multiple Sclerosis (MS) (đa xơ cứng), nhưng xin chú ý đây không nói về xơ cứng xương khớp, mà từ "xơ cứng" (sclerosis) được các bác sĩ giải phẫu học thế kỷ thứ 19 dùng để mô tả những mảng (plaque) mô sờ cưng cứng như mô thẹo , rải rác trong não bộ và tủy sống bệnh nhân lúc giải phẫu tử thi (multiple = đa; sclerosis, từ la-tin có nghĩa là thẹo [scar]).

Các sợi trong bó dây thần kinh được bao bọc bởi một chất mỡ bảo vệ gọi là myelin, và dòng điện dẫn truyền riêng rẽ theo từng sợi thần kinh. Cũng giống như dây cáp video có lớp nhựa bao bọc mỗi sợi dây điện trong đó, làm điện không bị "mát dây". Trong bệnh MS, các tế bào hệ miễn nhiễm (immune system) phá hủy chất myelin của dây thần kinh, và phá hủy các tế bào sản xuất chất myelin này (oligodendrocytes).

Các tế bào phòng thủ tấn công chất myelin trong não bộ, dây thần kinh thị giác và tủy xương sống, tạo nhiều hư hại, trong vùng chất trắng (white matter) cũng như chất xám(grey matter) của bộ não và gây những triệu chứng thần kinh như mất khả năng trí tuệ (loss of cognitive abilities), mệt mỏi (fatigue), chóng mặt, trầm cảm (depression), liệt các cơ của cơ thể (paralysis).Viêm dây thần kinh thị giác (optic neuritis) có thể là triệu chứng đầu tiên của MS, một bệnh của hệ thần kinh (nervous system), bao gồm bộ óc (brain) và tủy sống (spinal cord).

Yếu tố di truyền

Bệnh MS có thể gắn liền với một số yếu tố di truyền. Tính theo thống kê thì bà con người bệnh (cha mẹ, anh chị em, cô dì chú bác) có thể bị MS nhiều hơn là những người mà gia đình không mắc bệnh. Anh chị em ruột của người bệnh MS (siblings) có xác suất bệnh (nguy cơ) chừng 3-5%.

Người ta nghĩ rằng có nhiều gene khác nhau quyết định có phát bệnh MS trong một cá nhân.

Hoàn cảnh môi trường

Có thuyết cho rằng người mắc bệnh sinh ra với một xu hướng bẩm sinh, làm cho người đó phản ứng thế nào đó với một yếu tố nào đó trong môi trường sống và do đó gây ra bệnh MS; nói một cách khác có một khuynh hướng bẩm sinh do di truyền nhưng cũng cần hoàn cảnh môi trường thích hợp thì bệnh MS mới phát ra được.

Có một số nghiên cứu làm cho người ta nghi rằng một số virus có thể là nguyên nhân gây MS như Epstein Barr (gây ra bệnh sưng họng rất truyền nhiễm của thanh thiếu niên, gọi là mononucleosis hay “bệnh hôn” [kissing disease]); virus bệnh viêm gan; hay virus bệnh trái rạ (thuỷ đậu, chickenpox), nhưng chưa có bằng chứng rõ rệt về tương quan nhân quả giữa các virus này và bệnh MS.

Hormone nam, testosterone có khả năng giảm các hiện tượng tự miễn nhiễm, có lẽ vì vậy mà nam giới ít bị MS hơn nữ giới. Hormon nữ estrogen và progesterone cũng có tác dụng che chở đối với hiện tượng tự nhiễm, có thể giải thích phụ nữ thấy bệnh MS của mình giảm đi đáng kể lúc có bầu, do hai hormone kể trên gia tăng nhiều lúc thai kỳ.

Chẩn đoán bệnh đa xơ cứng(MS)

Dựa trên các tiêu chuẩn:
- Bằng chứng khách quan chứng minh có hai, hoặc nhiều hơn, dấu hiệu tổn thương ở não bộ hoặc tủy sống
- Các dấu hiệu này trải dài trong thời gian và không gian: có nghĩa là các tổn thương xảy ra trên hai vùng khác nhau của hệ thần kinh trung ương, và cách nhau trên ba tháng.

Chữa trị bệnh MS

Trong 10 năm qua, chữa trị bệnh MS đã cải thiện hơn nhiều, nhờ những thuốc mới được dùng ngay sau khi bệnh nhân được xác nhận là mắc bệnh đa xơ cứng (MS), và các tiến bộ về chẩn đoán hình ảnh (imaging) bằng MRI, tuy chúng ta vẫn cần những liệu pháp tốt hơn, hữu hiệu hơn.

Cần bác sĩ chuyên khoa thần kinh (neurologist) có kinh nghiệm chữa MS.

Có những thuốc mới (immunomodulators) đắt tiền có thể cải thiện các cơn bệnh, làm tiến trình chậm lại.
1)Những “thuốc biến đổi bệnh" được chứng minh làm giảm các cơn cấp tính (thuốc chích) (Disease-modifying drugs that reduce the number of exacerbations )
●interferon beta 1b (Betaseron, Extavia)(subcutaneous injection)
●glatiramer acetate (Copaxone)(subcutaneous injection)

2)Những “thuốc biến đổi bệnh" được chứng minh làm giảm các cơn cấp tính và làm chậm sự tiến triển của bệnh: (Disease-modifying drugs that have been shown to reduce exacerbations and slow the progression of MS):
●interferon beta-1a (Avonex, Rebif) (Intramuscular injection, oncea week)
●peginterferon beta-1a (Plegridy)
●teriflunomide (Aubagio)
●fingolimod (Gilenya), thuốc uống
●mitoxantrone (Novantrone). Cho trường hợp rất nặng. Thuốc cũng dùng trị ung thư, có thể gây độc cho tim và gây ung thư máu. (intravenous every 3 months)
●dimethyl fumarate (Tecfidera), thuốc uống
●natalizumab (Tysabri) Thuốc này ngăn chặn các tế bào phòng thủ của hệ miễn nhiễm không cho chúng vào hệ thần kinh trung ương, vì thế chúng không tấn công các tế bào thần kinh. Tuy nhiên, chỉ dùng khi các thuốc khác thất bại. Thuốc này liên quan đến một số trường hợp nhiễm trùng não.(PML: progressive Multifocal Leukoencephalopathy). (Intravenous every 28 days).

Trong đó, có 3 thứ thuốc uống để giúp MS không bị tái lại (relapses):

1)Aubagio (teriflunomide) (Cảnh báo của FDA: cần theo dõi cơ năng gan và ảnh hưởng trên thai nhi đối với người có bầu,không được dùng cho người có bầu). Tác dụng phụ: tiêu chảy, ói, rụng tóc, cơ năng gan bất bình thường.

2)Gilenya (fingolimod): uống 1 viên/ngày. Phản ứng phụ: tiêu chảy, nhức đầu, đau lưng, ho, cơ năng gan ảnh hưởng; bệnh nhân phải chủng ngừa.
3)Tecfidera: uống 2 lần/ngày; cần theo dõi các tế bào bạch cầu máu. Phản ứng phụ: đau bụng, tiêu chảy, ói. Một hoạt chất liên hệ có thể liên hệ đến một số trường hợp nhiễm trùng não.

Có những biện pháp giúp cải thiện đời sống hàng ngày của bệnh nhân, do đó cần cộng tác với bác sĩ gia đình, chuyên viên vật lý trị liệu, bác sĩ tâm thần, etc.

Nói tóm lại, multiple fibrosis do hệ miễn nhiễm tấn công các sợi thần kinh và cả tế bào thần kinh. Bịnh bớt rồi tái lại từng cơn (relapses, exacerbations), triệu chứng đi từ bộ phận này qua bộ phận khác, trải dài trong thời gian.

Định bệnh căn cứ phần lớn trên bệnh sử các triệu chứng, cho nên bác sĩ cần nhiều thì giờ điều tra và theo dõi mới chẩn đoán chính xác, phân biệt với nhiều bệnh tương tự.

Cần bác sĩ chuyên khoa thần kinh (neurologist) có kinh nghiệm chữa MS. Có những thuốc mới (immunomodulators) đắt tiền có thể cải thiện các cơn bệnh, làm tiến trình chậm lại.

Chúc bệnh nhân may mắn.

Bác sĩ Hồ văn Hiền

-------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi đáp Y học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Qúy vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ <vietnamese@voanews.com> để sắp xếp hẹn trả lời cho buổi phát thanh kế tiếp.

Các bác sĩ của chuyên mục Hỏi đáp Y học Trực tiếp của đài VOA sẽ cố gắng giải đáp các thắc mắc về y học của quý vị.

XS
SM
MD
LG