Đường dẫn truy cập

Bệnh sởi (Ban đỏ, measles, rougeole)

Bệnh sởi là một bệnh đường hô hấp do một virus (siêu vi) gây ra. Virus sởi mọc trong các tế bào họng và phổi.


Triệu chứng:

Nóng, sổ mũi, đỏ mắt, ho, nổi ban lên khắp cơ thể. Một trong 10 bệnh nhân bị viêm tai có thể gây điếc, một trong 20 người bị viêm phổi.1/1000 bệnh nhân bị viêm não (encephalitis), có thể làm bệnh nhân co giật (seizures), điếc (hearing loss), và trì trệ tâm trí (mental retardation).Tử vong chừng 1-3 ca/1000 bệnh nhân. Một số bệnh nhân bị tiêu chảy. Phụ nữ có thai có thể sẩy thai, sinh non, hoặc sinh em bé cân nặng thấp hơn bình thường (low birth weight).

Trẻ em ở các nước đang phát triển có thể bị suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A, bệnh có thể nguy hiểm hơn nhiều. Tử vong có thể xảy ra cho 1/4 bệnh nhân, và ở các nước châu Phi ban đỏ là nguyên nhân số một gây bệnh mù. Năm 2008, toàn thế giới có 164.000 người chết vì ban đỏ.

Phân biệt với một số ban tương tự như:

1) Roseola infantum do herpes virus 6. Trẻ em (6 tháng- 2 tuổi) bị nóng đột ngột, nhiệt độ lên cao (40 độ C hay 104 độ F), có thể làm co giật do sốt (febrile seizure), vài ba ngày sau đó nổi lên mẫn đỏ ngoài da, ở thân mình lan ra tay chân, không ở trên mặt và làm đỏ mắt như bệnh sởi. Sau đó thì bệnh nhân hết sốt. Thường bệnh nhẹ, không có biến chứng, tuy có thể làm lo lắng vì em bé sốt cao, và phụ huynh người Việt thì sợ ban "ra không hết".

2) Rubella hay German Measles, hay Three-Day Measles ("ban người Đức"), bệnh nhân sốt nhẹ 2-3 ngày, ban từ mặt lan xuống mình mẩy, có thể sưng các hạch lâm ba (lymph nodes), có thể đau nhức khớp xương nhất là ở phụ nữ. 50% bệnh nhân bị nhiễm mà không có triệu chứng. Tầm quan trọng ở bệnh rubella là do tác dụng của nó trên phụ nữ có thai. Nếu bị nhiễm virus trong quý đầu tiên, có cơ nguy thai bất bình thường (fetal malformation) trong 20% trường hợp. Thai nhi có thể bị bệnh tim, bệnh điếc, bệnh gan, lá lách và bệnh tâm trí trì trệ.

Truyền nhiễm: Ban đỏ hay sởi rất truyền nhiễm, lây lan dễ dàng. Người không miễn nhiễm với bệnh ban đỏ (chưa từng bệnh, chưa chủng ngừa), nếu tiếp xúc với nước miếng, do người bệnh hắt hơi, ho, hay chạm tay vào nước miếng của người bệnh rồi cho tay vào miệng, mũi người bị phơi nhiễm sẽ bị bệnh trong 90% trường hợp.
Nước miếng chứa siêu vi, siêu vi sẽ còn sống trong đó được 2 tiếng đồng hồ.
Người mang bệnh bắt đầu có khả năng truyền bệnh 4 ngày trước khi ra ban, cho đến 4 ngày sau khi ra ban.
Bệnh chỉ nhiễm trùng ở người, không lây qua cũng như không bị truyền qua từ thú vật.
Mỹ đã loại được bệnh ban đỏ từ năm 2000. Tuy nhiên, mỗi năm có chừng 60 trường hợp ban đỏ ở Mỹ, phần lớn do nhưng người từ châu Âu đem qua, vì người Mỹ du lịch châu Âu nhiều hơn trước, và bệnh lây qua những người không được chủng ngừa.
Theo CDC (ngày 3 tháng 5, 2014), năm nay (2014), Mỹ có đến 129 ca sởi, cao nhất từ 1995 đến giờ, nhất là ở California, phần lớn do bệnh từ Philippines đem qua. Hiện nay Philippines đã có trên 20.000 ca, cao hơn con số chính thức của Việt nam.
Trước khi chế độ chích ngừa được áp dụng rộng rãi ở Mỹ (1963), 3-4 triệu người bị ban đỏ mỗi năm, 400-500 người chết và 48.000 người nhập viện.

Định bệnh:

Theo Trung tâm Kiểm soát bịnh của Hoa Kỳ, tiêu chuẩn lâm sàn định bịnh sởi là:

1) Ban toàn thân mình trên 3 ngày.
2) Nhiệt độ trên 101F (hay 38.3 độ C).
3)Ho, sỗ mũi, hay viêm kết mạc ("đỏ mắt").

Kết quả thí nghiệm: một trong 3 điểm sau đây:

1) Ig M dương cho bịnh sởi.
2) kháng thể gia tăng đáng kể
3) cô lập được siêu vi ban đỏ từ mẫu bịnh.
4) phát hiện được DNA siêu vi ban đỏ bằng PCR.


Trị bệnh:

● Không có thuốc đặc trị (ví dụ kháng sinh chống siêu vi) bệnh ban đỏ. Kháng sinh chống virus Ribavarin có tác dụng trên virus trong phòng thí nghiệm. Trên lâm sàn, có thể truyền tĩnh mạch hay hơi bơm aerosol, được dùng trong những trường hợp thật nặng, chưa được FDA chấp thuận.
● Dùng thuốc giảm nóng như acetaminophen nếu cần.
● Nếu bệnh nhân thiếu vitamin A, có thể cho thêm vitamin A. Những trường hợp nặng, cần cho vào nhà thương để điều trị thích hợp.
● Tổ chức Y tế quốc tế (WHO) hiện nay khuyến cáo dùng vitamin A để trị sởi như sau:
1) Trẻ trên 12 tháng tuổi: 200.000 IU (hai trăm ngàn đơn vị quốc tế)/ngày.
2) Trẻ từ 6-11 tháng 100.000 IU (100.000 đơn vị quốc tế)/ngày.
3) Trẻ dưới 6 tháng: 50.000 IU (năm chục ngàn đơn vị)/ngày. Uống (hoặc chích) 2 (hai) ngày liên tiếp. Một liều thì không hiệu nghiệm. Nếu trẻ có dấu hiệu thiếu vitamin A, nên cho một liều thứ ba (theo tuổi) 2-4 tuần sau đó.
● Trong trường hợp bệnh nhân không miễn nhiễm (chưa bao giờ bị sởi, chưa chích ngừa, trẻ dưới 1 tuổi, phụ nữ có thai, người bị liệt kháng (đề kháng yếu), có thể thay đổi bệnh cho nhẹ hơn hoặc tránh bệnh khẩn cấp bằng cách , nội trong 6 ngày sau khi phơi nhiễm (tiếp xúc) với siêu vi bệnh sở chích Immune globulin (IG) chuyên biệt (chích thịt) với liều lượng là 0.25ml/kg cân nặng hoặc truyền tĩnh mạch IGIV (immune globulin intravenous, là những kháng thể giúp cho bệnh nhân phòng thủ tạm thời, rất đắt tiền).
Sau khi dùng IG, phải đợi 5-6 tháng sau mới chích chủng ngừa sởi như MMR được.

Lưu ý:

● Cần nghỉ ngơi.
● Cho dùng máy phun hơi nước (nebulizer) có thể làm thở dễ chịu hơn, giảm ho.
● Uống đầy đủ nước, ăn uống đầy đủ.
● Mắt mệt và nhức nhối, cần tránh ánh sáng mạnh, nên cho mắt nghỉ ngơi, đừng nhìn màn hình chói, mõi mắt, dễ làm khô mắt.
● Những người không có miễn nhiễm cần tránh tiếp xúc với người bệnh. Nên nhớ nước miếng, nước giãi sau khi nằm ngoài không khí vẫn có thể gây bệnh trong 2 giờ sau đó.

Tình hình sởi (ban đỏ) bộc phát ở Việt Nam

Theo tin tức đài VOA, tính đến ngày 24 tháng 4, 2014, có chừng 3500 ca xác nhận là sởi, với 10 ngàn trường hợp được coi là giống như sởi. Theo báo Tuổi Trẻ, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 11 ngày, được điều trị 10 ngày, sau khi bị lây từ cả cha lẫn mẹ đều bị bệnh.

Số từ vong tính từ cuối năm 2013 đến nay là 123. Đa số từ vong xảy ra ở vùng Hà Nội và cho đến nay hình như chưa có tử vong ở miển nam Việt nam. Như vậy, tỷ lệ tử vong chừng 8/1000 người bệnh nếu tính luôn những người nghi là sởi. Nếu chỉ tính những trường hợp xác nhận là sởi, thì tỷ lệ tử vong còn cao hơn nhiều : 35/1000 người bệnh, so với 1-2/1000 của cơ quan kiểm soát bệnh của Mỹ CDC nêu ra.

Theo thủ tướng VN thì tại một số tỉnh thành, tỷ số chích ngừa chưa tới một nửa. Nếu vậy thì tỷ số cả nước chắc phải thấp hơn nhiều vì các vùng nông thôn chắc phải ít phương tiện chích ngừa hơn, tuy hết 37% các ca là ở Hà nội (có thể vì vùng dân đông đúc chật chội hơn, và bác sĩ định bệnh dễ dàng hơn vùng khác). Hơn nữa, thuốc chủng ngừa sởi như MMR bảo quản rất nhiêu khê (phải giữ trong tủ lạnh, hay thùng lạnh, 2 o -8 o C, không được quá lạnh hay nóng vì vi rút trong thuốc chủng chết đi) nếu không sẽ mất hiệu nghiệm. Nếu chích một lần tỷ lệ hiệu nghiệm: 64% cho quai bị, 90% cho ban đỏ và 95% cho rubella ( cho MMRII là thuốc dùng ở Mỹ), có thể là phải chích thêm một liều nữa như ở Mỹ mới đạt tỷ lệ che chỡ cao. Một số trẻ em tử vong đáng kể xảy ra sau khi chích ngừa ở VN cũng làm cho cha mẹ các em ngần ngại cho các em chích ngừa.

Theo đài Á Châu Tự do thì Cơ quan Y tế Quốc tế (WHO) cho rằng bộc phát sởi ở VN đáng lẽ tránh được nếu chích ngừa rộng rãi hơn. Hiện nay Việt Nam cho trẻ chích ngửa sởi lúc 9 tháng và lần thứ 2 lúc trẻ hơn 12 tháng tuổi. Một số trẻ chỉ được chích một lần mà thôi. Hiện nay, Việt Nam bắt đầu cho chích những trẻ lớn hơn (2-14 tuổi).

Cách ngừa bệnh:

Ở Mỹ trẻ em được chích ngừa vắc xin vi rút sống chống lại Ban đỏ (Measles), Quai bị (Mumps) và Ban người Đức (German Measles, Rubella) tên là MMRII. Thuốc MMRII phải được giữ trong nhiệt độ không quá nóng hay không quá lạnh, nếu không vi rút sống trong thuốc sẽ chết và sẽ hết hiệu nghiệm.

Lần đầu lúc được 12 tháng (12-18 tháng). Chích trước 12 tháng tuổi thì bên Mỹ người ta bắt phải chích lại, vì người ta nghĩ kết quả không đủ tốt. Tôi nhận xét ở Việt Nam chích ngừa ban đỏ lúc trẻ chưa tới 12 tháng tuổi, có lẽ do những lý do riêng. Lúc đến Mỹ, các trẻ này sẽ phải chích lại. Đến lúc bé 4 tuổi, trước khi đi học, phải chích thêm một mũi MMRII nữa. Sinh viên vào đại học cũng phải chích MMRII mũi thứ 2, nếu trước đây chỉ chích có một mũi. Người nhập cư lúc làm thủ tục khám bệnh cũng phải chích 2 mũi MMRII (cách nhau ít nhất 1 tháng) nếu chưa chích ngừa và không chứng minh mình đã miễn nhiễm (có đủ kháng thể trong máu).

Trước đây, ở Mỹ và Châu Âu, có một số phong trào chống chích ngừa ban đỏ vì họ cho rằng MMR làm bệnh nhân bị chứng tự kỷ. Những cuộc khảo sát rộng rãi sau nhiều năm cho thấy điều nghi ngờ này vô căn cứ. Tuy nhiên, một số người ở Mỹ vẫn chống đối thuốc chủng MMRII và từ chối không cho con họ chủng ngừa MMR, cũng như một số thuốc chủng khác. Những người này có thể tự mãn cho rằng con họ không chích cũng không có bệnh gì cả và lại càng cho là họ đúng. Tuy nhiên, sự an toàn của chính họ là nhờ vào tác dụng của việc chủng ngừa của đại đa số người trong cộng đồng, tạo nên tác dụng gọi là "miễn nhiễm bầy đàn" (herd immunity) khi điều kiện miễn nhiễm của đa số thành viên một cộng đồng (>85-95% ) gây ra miễn nhiễm che chở cho toàn bộ cộng đồng đó. Nếu những người "phá đám" từ chối chủng ngừa đông đảo hơn, đến một mức nào đó, hiệu ứng ”miễn nhiễm bầy đàn" này sẽ bị phá vỡ, và các disease outbreak ("ổ bệnh") hay cơn dịch có thể xảy ra.
Cho nên, một hệ thống y khoa công cộng (public health) hữu hiệu để thực hiện chủng ngừa rộng rãi và sự cộng tác, tin tưởng của mọi thành viên trong xã hội rất cần thiết để thực hiện mức chủng ngừa phổ quát, càng rộng càng tốt, và hữu hiệu (nhắm vào nhóm tuổi thích hợp, bảo quản thuốc chích ngừa tốt, đúng cách).
XS
SM
MD
LG