Đường dẫn truy cập

Tưởng nhớ 200 năm ngày sinh của nhà văn Edgar Allan Poe


Năm 2009 là thời điểm kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Edgar Allan Poe, một nhà thơ và một nhà văn chuyên về các tiểu thuyết bí ẩn, kinh dị. Trong số các tác phẩn của ông còn có cả loại tiểu thuyết trinh thám đương đại nữa. Ông là một nhà văn yểu mệnh nhưng cuộc đời ngắn ngủi của ông lại là những năm tháng đầy sáng tạo. Câu Chuyện nước Mỹ tuần này sẽ đem đến quí thính gỉa đôi nét về nhà văn, nhà thơ được ái mộ không những tại Hoa Kỳ mà còn ở Châu Âu nữa. Mời quí vị theo dõi câu chuyện của Nancy Steinbach với Lan Phương sau đây.

Tưởng nhớ 200 năm ngày sinh của nhà văn Edgar Allan Poe, bưu điện Hoa Kỳ đã cho phát hành con tem mang hình ảnh của ông, đồng thời viện bảo tàng tại nhiều thành phố nơi ông từng sống qua cũng tưởng nhớ ông bằng cách cho diễn những vở kịch, trích đọc văn thơ của ông và những lễ lạc khác.

Văn thơ của Edgar Allan Poe được xếp vào loại bí hiểm và kinh dị, điên loạn và chết chóc. Ông sống một cuộc đời ngắn ngủi và bất hạnh. Ông ra đời ngày 19 tháng giêng năm 1809 tại Boston, bang Massachusetts. Song thân của ông đều là diễn viên sân khấu. Lúc ông còn ẵm ngửa cũng là lúc cha ông từ bỏ gia đình. Khi ông được 2 tuổi thì mẹ ông từ trần. Vào lúc đó, hai mẹ con ông sống tại thành phố Richmond, bang Virginia.

Edgar Poe được một thương gia giàu có tại Richmond tên là John Allan đem về nuôi. Tuy thương gia này chưa bao giờ chính thức nhận ông làm con nuôi nhưng từ đó cậu bé được đặt tên là Edgar Allan Poe.

Thuở nhỏ, Edgar Allan Poe học tại Anh và Richmond, Hoa Kỳ. Ông từng theo học tại đại học Virginia ở Charlottesville. Là một sinh viên khá giỏi nhưng ông lại mắc tật rượu chè, cờ bạc và đâm nợ nần. Người cha nuôi của ông từ chối không chịu trả tiền nợ vì thua bạc cho ông và cũng không còn muốn tiếp tục trả học phí cho ông nữa nên Edgar Poe đành bỏ học, dọn dến Boston viết báo và soạn bài vở cho một tờ nguyệt san tại đó.

Edgar Poe cũng từng phục vụ trong quân đội được 2 năm trước khi vào học tại trường võ bị West Point với ý định trở thành một sỹ quan, và chỉ theo học tại đây được có 6 tháng rồi bị loại. Nhưng vào lúc đó, Edgar Poe đã xuất bản được 3 tập thơ.

Ông bắt đầu viết văn khi sống với người cô ruột tại Baltimore, bang Maryland. Tháng 10 năm 1833, ông đoạt một giải thưởng về chuyện ngắn do một tờ báo địa phương tổ chức. Giải thưởng đó trị giá 50 đô la thời bấy giờ và được nhận vào làm chủ biên cho tờ Southern Literary Messenger ở Richmond, bang Virginia. Trong khoảng thời gian này ông đãõ cho xuất bản nhiều tác phẩm.

Năm 1834, Edgar Poe cưới cô em họ 13 tuổi con người cô ruột, 4 năm sau họ dọn sang Philadelphia, bang Pennsylvania. Tại đây Poe làm chủ biên cho tờ Burton’s Gentlemans Magazine và tiếp tục sáng tác.

Rất nhiều truyện kinh dị nhất của ông được xuất bản trong khoảng thời gian này.

Edgar Poe đã sử dụng một lối viết truyện khác thường so với những nhà văn đương thời với ông, đó là để cho một nhân vật trong truyện thuật lại những gì đang diễn ra. Truyện ngắn 'The Tell-Tale Heart' là một thí dụ điển hình.

Ông cũng còn được ghi nhớ như một tác giả viết truyện trinh thám giả tưởng, với nhân vật chính là một nhà điều tra phải giải quyết những vụ án mạng và tội ác khác.

Và quả thực, Edgar Poe được coi là cha đẻ của tiểu thuyết trinh thám đương đại. Nhân vật giả tưởng, thám tử C. August Dupin lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm 'The Murders In the Rue Morgue' vào năm 1841. Thám tử Dupin sau đó còn thấy xuất hiện trong những truyện như 'The Mystery of Marie Roget' và 'The Purloined Letter'.

Arthur Conan Doyle, cha đẻ của thám tử Sherlock Holmes trong truyện trinh thám giả tưởng, đã viết về ảnh hưởng của Edgar Poe đối với những nhà sáng tác tiểu thuyết trinh thám khác như sau: “Mỗi tác giả có thể tự họ xếp đặt các tình tiết, các diễn biến, nhưng cái nghệ thuật chính của tiểu thuyết trinh thám thì phải truy nguyên về những câu truyện đáng nể với thám tử Dupin, thật kỳ diệu với sức mạnh siêu việt, sự bí ẩn và những tình tiết diễn biến mau chóng, ly kỳ."

Ông Jeff Jerome, người quản lý căn nhà và cũng là viện bảo tàng Edgar Allan Poe tại thành phố Baltimore, bang Maryland, cho biết nhiều nhà sáng tác nổi tiếng khác cũng đã chịu ảnh hưởng của Edgar Allan Poe, ví dụ như H.G. Wells và Alfred Hitchcock. Ảnh hưởng của Edgar Poe còn lan rộng sang lãnh vực kịch nghệ, phim ảnh, ca nhạc kịch, âm nhạc, hoạt họa, truyền hình và hội họa; nói tóm lại, đến mọi hình thức nghệ thuật.

Một giải thưởng mang tên một tác phẩm nổi tiếng của ông 'The Raven Award' được trao cho những cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp có công tiếp tục gìn giữ ảnh hưởng của Edgar Poe. Năm nay, Hiệp Hội Edgar Allan Poe và viện bảo tàng Poe House tại Baltimore được trao giải này.

Edgar Allan Poe rất nổi tiếng sau bài thơ 'The Raven' (Con Quạ), được xuất bản năm 1845. Bài thơ rất gợi hình và vần điệu nghe như tiếng nhạc u ẩn, trầm buồn.

Nhân vật chính trong bài thơ 'The Raven' là một người đàn ông vừa mất người vợ yêu dấu về tay tử thần, thao thức trong cô đơn, thấy một con quạ đen đậu bên thành cửa trong ánh sáng hiu hắt vàng vọt giữa đêm trường và muốn chuyện trò với nó, nhưng nó vẫn im lặng và cuối cùng con vật chỉ gật gù thốt ra những âm thanh nghe như 'nevermore …never more' không bao giờ nữa, không bao giờ nữa...

Nét sầu thảm và kinh dị trong các tác phẩm của Edgar Poe có thể khiến cho độc giả ngờ rằng tâm trí ông không bình thường. Nhưng những người biết ông đều nói rằng ông là một người rất tử tế dễ thương.

Người vợ yêu dấu của ông từ trần năm 1847 sau nhiều năm dài chống chỏi với bệnh lao. Đồng thời tờ báo mà ông chủ biên cũng lụn bại và sức khỏe của ông suy sụp. Ông tạ thế ngày 7 tháng 10 năm 1849 trong tình cảnh hết sức khó hiểu

Người ta tìm thấy ông trong một quán rượu tại Baltimore, quần áo rách rưới tả tơi, mê sảng, không biết mình ở đâu và tại sao đến đấy. ông được đưa vào bệnh viện và ông qua đời 4 ngày sau đó, hưởng dương 40 tuổi.

Qua nhiều năm tháng, các sử gia và các chuyên gia y học đã cố tìm cách giải thích nguyên nhân cái chết của Edgar Poe. Một số cho rằng ông đã uống rượu để quên sầu và đã chết vì rượu. Một số lại cho rằng ông bị mắc bệnh dại do bị chó hay một con vật như chồn, cáo, sóc bị bệnh dại cắn.

Nhiều cư dân tại Baltimore thì cho rằng ông đã bị những băng đảng du đãng ở địa phương đánh đập.

Hằng năm, chừng 2,000 người đến viếng mộ phần của Edgar Poe tại Baltimore, và cứ mỗi năm vào 19 tháng giêng, sinh nhật của ông, giữa mùa đông lạnh cóng, nhiều người hiếu kỳ tụ tập ở bên ngoài khu mộ chí để nhìn qua rào, nín thở theo dõi một người khoác áo choàng đen, mũ đen phủ kín mặt, xuất hiện vào giữa đêm khuya thanh vắng, từ bên kia nghĩa trang tiến về phía mộ phần của Edgar Poe, trịnh trọng đặt một chai rượu cognac và 3 bông hồng đỏ ở đấy rồi biến mất.

Không ai trong số những cư dân ở Baltimore muốn truy tìm tung tích của người khách lạ nửa đêm này. Họ muốn giữ cho câu chuyện cứ mãi mãi bí ẩn, như chính cuộc sống và cái chết của nhà văn Edgar Allan Poe.

Sau đây là bài thơ The Raven dịch giả: Lý Lãng Nhân, cư ngụ tại Alabama, Hoa Kỳ.

The Raven
Edgar Allan Poe (1809-1849)

Once upon a midnight dreary, while I pondered, weak and weary,
Over many a quaint and curious volume of forgotten lore—
While I nodded, nearly napping, suddenly there came a tapping,
As of some one gently rapping—rapping at my chamber door.
"'Tis some visitor," I muttered, "tapping at my chamber door—
Only this and nothing more."

Ah, distinctly I remember, it was in the bleak December,
And each separate dying ember wrought its ghost upon the floor.
Eagerly I wished the morrow;—vainly I had sought to borrow
From my books surcease of sorrow—sorrow for the lost Lenore—
For the rare and radiant maiden whom the angels name Lenore—
Nameless here for evermore.

And the silken sad uncertain rustling of each purple curtain
Thrilled me—filled me with fantastic terrors never felt before;
So that now, to still the beating of my heart, I stood repeating
"'Tis some visitor entreating entrance at my chamber door—
Some late visitor entreating entrance at my chamber door;—
This it is and nothing more."

Presently my soul grew stronger; hesitating then no longer,
"Sir," said I, "or Madam, truly your forgiveness I implore;
But the fact is I was napping, and so gently you came rapping,
And so faintly you came tapping—tapping at my chamber door,
That I scarce was sure I heard you"—here I opened wide the door:—
Darkness there and nothing more.
Deep into that darkness peering, long I stood there wondering, fearing,
Doubting, dreaming dreams no mortal ever dared to dream before;
But the silence was unbroken, and the stillness gave no token,
And the only word there spoken was the whispered word, "Lenore!"
This I whispered, and an echo murmured back the word, "Lenore!"—
Merely this and nothing more.

Back into the chamber turning, all my soul within me burning,
Soon again I heard a tapping, somewhat louder than before,
"Surely," said I, "surely that is something at my window lattice;
Let me see, then, what thereat is, and this mystery explore—
Let my heart be still a moment, and this mystery explore;—
'Tis the wind and nothing more."

Open here I flung the shutter, when, with many a flirt and flutter,
In there stepped a stately Raven of the saintly days of yore.
Not the least obeisance made he; not an instant stopped or stayed he;
But, with mien of lord and lady, perched above my chamber door—
Perched upon a bust of Pallas just above my chamber door—
Perched and sat and nothing more.

Then this ebony bird beguiling my sad fancy into smiling,
By the grave and stern decorum of the countenance it wore,
"Though thy crest be shorn and shaven, thou," I said, "art sure no craven,
Ghastly grim and ancient Raven wandering from the Nightly shore—
Tell me what thy lordly name is on the Night's Plutonian shore!"
Quoth the Raven, "Nevermore."

Much I marvelled this ungainly fowl to hear discourse so plainly,
Though its answer little meaning—little relevancy bore;
For we cannot help agreeing that no living human being
Ever yet was blessed with seeing bird above his chamber door—
Bird or beast upon the sculptured bust above his chamber door,
With such a name as "Nevermore."

But the Raven, sitting lonely on that placid bust, spoke only
That one word, as if his soul in that one word he did outpour.
Nothing further then he uttered; not a feather then he fluttered—
Till I scarcely more than muttered, "Other friends have flown before—
On the morrow he will leave me, as my Hopes have flown before."
Then the bird said, "Nevermore."

Startled at the stillness broken by reply so aptly spoken,
"Doubtless," said I, "what it utters is its only stock and store,
Caught from some unhappy master, whom unmerciful Disaster
Followed fast and followed faster till his songs one burden bore—
Till the dirges of his Hope the melancholy burden bore
Of 'Never—nevermore.'"

But the Raven still beguiling all my sad soul into smiling,
Straight I wheeled a cushioned seat in front of bird and bust and door;
Then, upon the velvet sinking, I betook myself to linking
Fancy unto fancy, thinking what this ominous bird of yore—
What this grim, ungainly, ghastly, gaunt and ominous bird of yore
Meant in croaking "Nevermore."

This I sat engaged in guessing, but no syllable expressing
To the fowl whose fiery eyes now burned into my bosom's core;
This and more I sat divining, with my head at ease reclining
On the cushion's velvet lining that the lamp-light gloated o'er,
But whose velvet violet lining with the lamp-light gloating o'er,
She shall press, ah, nevermore!

Then, methought, the air grew denser, perfumed from an unseen censer,
Swung by Seraphim whose foot-falls tinkled on the tufted floor.
"Wretch," I cried, "thy God hath lent thee—by these angels he hath sent thee
Respite—respite and nepenthe from thy memories of Lenore!
Quaff, oh quaff this kind nepenthe, and forget this lost Lenore!"
Quoth the Raven, "Nevermore."

Prophet!" said I, "thing of evil!—prophet still, if bird or devil!—
Whether Tempter sent, or whether tempest tossed thee here ashore,
Desolate yet all undaunted, on this desert land enchanted—
On this home by Horror haunted—tell me truly, I implore—
Is there—is there balm in Gilead?—tell me—tell me, I implore!"
Quoth the Raven, "Nevermore."

"Prophet!" said I, "thing of evil!—prophet still, if bird or devil!
By that Heaven that bends above us—by that God we both adore—
Tell this soul with sorrow laden if, within the distant Aidenn,
It shall clasp a saintly maiden whom the angels name Lenore—
Clasp a rare and radiant maiden whom the angels name Lenore."
Quoth the Raven, "Nevermore."

"Be that word our sign of parting, bird or fiend!" I shrieked, upstarting—
"Get thee back into the tempest and the Night's Plutonian shore!
Leave no black plume as a token of that lie thy soul hath spoken!
Leave my loneliness unbroken!—quit the bust above my door!
Take thy beak from out my heart, and take thy form from off my door!"
Quoth the Raven, "Nevermore."

And the Raven, never flitting, still is sitting—still is sitting
On the pallid bust of Pallas just above my chamber door;
And his eyes have all the seeming of a Demon's that is dreaming,
And the lamp-light o'er him streaming throws his shadow on the floor;
And my soul from out that shadow that lies floating on the floor
Shall be lifted—nevermore!

Con Quạ
Bản dịch Việt ngữ của David Lý Lãng Nhân


Nửa đêm buồn nghe chán chường mệt mỏi
Ngẫm sách xưa bao tích cũ lãng quên
Thiu thiu buồn chợt nghe tiếng nhẹ êm
Như ai gõ cửa phòng nghe lạch cạch
Tôi lẩm bẩm, độ chừng mình có khách
Chắc thế thôi, chứ chẳng có gì hơn!

Tôi nhớ rõ tháng Chạp đầy giá rét
Que củi tàn lịm chết bóng ma riêng
Ước gì mai tôi học được phép thiêng
Ngưng đau khổ vì Lenore yêu dấu
Người thiếu nữ đẹp như tiên nga đó
Đã vô danh mãi mãi đến bao giờ!

Tiếng xạc xào màn lụa tím mơ hồ
Rung trong tôi một lạ thường kinh sợ
Để trấn áp nhịp tim run loạn xạ
Tôi nhủ thầm: chắc có khách xin vào
Khách muộn đang chờ đâu phía cửa ngoài
Chắc thế thôi, chẳng có gì hơn nữa!

Hết ngập ngừng, hồn tôi vừa tỉnh ngủ
“Xin thưa Ông, hay Bà, thứ lỗi cho
Tôi ngủ quên nên không nghe tiếng gõ
Tiếng gõ nhẹ nhưng âm vang còn đó
Nào, tôi xin mở rộng cửa ra đây”:
Tối mịt mùng, chỉ có bóng đêm dầy!

Nhìn đêm tối bỗng rùng mình kinh hãi
Tưởng chừng mình đang cơn mộng dị thường
Đêm lặng yên, như ngưng đọng lạ lùng
Trừ tiếng vọng Lenore về thủ thỉ!
Tiếng tôi gọi Lenore tuy rất khẽ
Chỉ thế thôi, nào có thấy gì hơn!

Trở vào phòng hồn tôi như bốc lửa
Khi tôi nghe tiếng gõ cửa mạnh hơn
Tự bảo mình: chắc rèm cửa gió rung
Cần xem lại, có gì đâu bí mật!
Hãy tĩnh tâm để suy ra lẽ thật:
Chắc gió lùa, chứ chẳng có gì hơn!

Cửa sổ mở, chợt thấy rung đôi cánh
Một Quạ đen oai vệ đã hiện hình
Chẳng buồn chào, hay chẳng chút ngập ngừng
Như Lãnh chúa ngự ngay trên đầu cửa
Trên bức tượng bán thân, trên ngưỡng cửa
Quạ ngồi yên, thôi chẳng thấy gì hơn!

Nhìn Quạ đen khiến tôi mỉm cười suông
Vẻ trang trọng uy nghiêm và chững chạc
“Mồng nhẳn nhụi, hình dung không nhút nhát
Chắc Quạ xưa về bến lạc đêm đen -
Xưng tên đi, sứ giả của Diêm Vương!”
Quạ cất tiếng: “Chẳng bao giờ, mãi mãi!”

Tôi thích thú nghe lời chim tỏ rõ
Câu trả lời tuy vô nghĩa, vô tâm
Đời chưa ai có diễm phúc cho bằng
Được chim lạ đậu ngay trên ngưỡng cửa
Cầm hay thú, đang ngự trên tượng giữa
Với danh xưng: “Mãi mãi chẳng bao giờ!”

Quạ lặng yên ngự trên đầu tượng cửa
Lời thốt ra hồn xuất cõi u linh
Một lời thôi, lông cánh nhẹ rung rinh
Tôi lẩm bẩm: “Bạn xưa rồi cất cánh –
Ngày mai về, Hy vọng đã bay xa.”
Quạ kêu lên: “Mãi mãi chẳng bao giờ”

Trong lặng yên, giật mình nghe chim nói
Tự nhủ thầm: chim chỉ nhớ những lời
Chủ khổ đau vì Họa đến tơi bời
Dồn dập như điệp khúc ca bi đát
Đám tang buồn Hy vọng lên tiếng hát:
“Chẳng bao giờ, mãi mãi chẳng bao giờ!”

Nhưng Quạ đen vẫn khiến tôi cười mỉm
Mang ghế ngồi đối diện tượng và chim
Trong nhung êm tôi thả mộng suy tìm
Mong thấu hiểu tiếng chim, điềm hung tợn
Chim sầu thảm, dị thường, và rùng rợn
Cất tiếng kêu: “Mãi mãi chẳng bao giờ!”

Tôi ngồi đó đoán chừng và chẳng nói
Để mắt chim rực lửa chiếu tim mình
Tôi ngả đầu trên gối tựa nhung mềm
Ánh đèn chìm trong nhung lụa dịu êm
Trên gối đó tranh sáng hòa nhung tím
Nàng chẳng còn ngả đầu nữa bao giờ!

Tôi tưởng thấy không khí đầy ngào ngạt
Tỏa mùi hương từ bình khói vô hình
Tiếng chuông rung theo bước của thiên thần
Thượng Đế ban linh dược ngưng đau khổ
Cho tôi quên kỷ niệm Lenore đó
Quạ kêu lên: “Mãi mãi chẳng bao giờ!”

Hỡi Tiên tri, Hung thần hay Ác quỷ
Ma cám dỗ lừa người, hay Bão tố
Bờ hoang liêu, miền ám ảnh đam mê
Nơi quê hương của kinh dị thảm thê
Có ai biết nhựa thơm trên núi cũ?
Quạ kêu lên: “Mãi mãi chẳng bao giờ!”

Hỡi Tiên tri, Hung thần hay Ác quỷ
Ôi, Thiên đàng, ôi, Thượng Đế Bề trên
Cho hồn tôi trĩu nặng chốn Địa đàng
Được ghì chặt Lenore người thánh nữ
Ôm tuyệt sắc Lenore, nàng tiên nữ!
Quạ kêu lên: “Mãi mãi chẳng bao giờ!”

Hãy từ giã! dù Chim hay Ác quỷ
Hãy trở về Bão tố cõi Diêm vương!
Đừng lưu lại lông đen của dối gian
Đừng lưu lại cô đơn trên ngưỡng cửa
Hãy ngưng mổ tim ta, xa khung cửa
Quạ kêu lên: “Mãi mãi chẳng bao giờ”

Quạ chẳng đi, Quạ vẫn ngồi lì đó
Trên cửa phòng, trên đầu tượng bán thân
Mắt chiếu ngời như Ác quỷ mơ mòng
Ánh đèn hắt bóng đen lên sàn gỗ
Linh hồn tôi lặng lờ trong bóng đó
Chẳng bay lên - Mãi mãi chẳng bao giờ!

Annabel Lee
Edgar Allan Poe


It was many and many a year ago,
In a kingdom by the sea
That a maiden there lived whom you may know.
By the name of Annabel Lee;
And this maiden she lived with no other thought
Than to love and be loved by me.

She was a child and I was a child,
In this kingdom by the sea;
But we loved with a love that was more than love—
I and my Annabel Lee—
With a love that the wingèd seraphs of Heaven
Coveted her and me.

And this was the reason that, long ago,
In this kingdom by the sea,
A wind blew out of a cloud, chilling
My beautiful Annabel Lee;
So that her high-born kinsmen came
And bore her away from me,
To shut her up in a sepulchre
In this kingdom by the sea.

The angels, not half so happy in Heaven,
Went envying her and me:—
Yes!—that was the reason (as all men know,
In this kingdom by the sea)
That the wind came out of the cloud by night,
Chilling and killing my Annabel Lee.

But our love it was stronger by far than the love
Of those who were older than we—
And many far wiser than we—
And neither the angels in Heaven above,
Nor the demons down under the sea
Can ever dissever my soul from the soul
Of the beautiful Annabel Lee:--

For the moon never beams, without bringing me dreams
Of the beautiful Annabel Lee;
And the stars never rise, but I feel the bright eyes
Of the beautiful Annabel Lee:
And so, all the night-tide, I lie down by the side
Of my darling—my darling—my life and my bride,
In her sepulchre there by the sea—
In her tomb by the sounding sea.
(1949)


Lý-Lệ-An
Người dịch: Gs. Phạm Văn Quảng, California

Vương quốc xưa bên bờ biển cả,
Lý-Lệ-An thiếu nữ trâm anh!
Tình nàng vằng vặc cao xanh,
Tình ta hơn những mối tình thiên thu.

Yêu nhau thuở còn thơ ngây ấy,
Vương quốc kia sóng dậy bồi hồi.
Tim ta một nhịp sóng đôi,
Thiên thần thượng giới ngậm ngùi hờn ghen.

Ôi! Hồng nhan hoa nhường nguyệt thẹn!
Giữa đêm đen gió buốt thổi về,
Xác hoa giã biệt sông mê,
Bào huynh nàng đã đưa về mộ xa.

Biển xanh nước bao la biền biệt,
Vương quốc xưa tha thiết tình ta.
Mộ xây kép ánh trăng tà,
Biển xanh vằng vặc lòng ta nhớ nàng.

Thiên thần nửa thiên đàng hạnh phúc,
Còn hờn ghen ngưỡng phục tình ta.
Là đây thơ nhạc giao hòa,
Là đây bạc mệnh--lời ca cõi trần.

Từ mây cao gió vần vũ thổi,
Lạnh hồn hoa chìm nổi anh linh.
Tình ta là cả trời xanh,
Cao xa hơn những mối tình thiên thu.

Biển sâu quỉ âm u với gọi,
Sáo thiên thần thượng giới lâng lâng.
Chẳng hề tán loạn tâm thân,
Hồn ta gói trọn hồn nàng Lệ An.

Nửa miệng hoa trăng tàn như cắt,
Ngàn sao trong đôi mắt người yêu.
Lý Lệ An vẫn yêu kiều,
Cùng ta cõi mộng dệt nhiều ý thơ.

Sao đã mọc không mờ ánh mắt,
Trăng đã lên hiu hắt mộng vàng
Cô dâu, hiền nội, người thương,
Ta nằm đây cạnh mộ nàng sóng đôi,
Triều dâng biển sóng bồi hồi,
Biển xanh ta vẫn muôn đời có nhau.



XS
SM
MD
LG