Đường dẫn truy cập

LESSON #311: No brainer, Push the envelope, Cut to the chase


Huyền Trang xin kính chào quý vị thính giả. Trong bài học thành ngữ English American Style hôm nay chúng tôi xin đem đến quý vị ba thành ngữ mà quý vị ít khi tìm thấy trong từ điển. Chị Pauline xin đọc thành ngữ thứ nhất.

VOICE: (PAULINE): The first idiom is “No Brainer”, “No Brainer”.

TEXT: (TRANG): “No Brainer” có từ mới là Brainer, đánh vần là B-R-A-I-N-E-R, là một ý kiến hay. Tuy nhiên, No brainer được dùng để một hành động khôn ngoan, không cần đòi hỏi phải suy nghĩ dài dòng. Mời quý vị nghe thí dụ sau đây.

VOICE: ( PAULINE): Everybody knows it’s smart to sell stocks when they start to go down and to buy when they start to go up. That’s a real no brainer, even a moron can figure it out.

TEXT: (TRANG): Câu này có nghĩa như sau: Ai cũng biết rằng điều khôn ngoan là bán cổ phần chứng khoán khi nó bắt đầu xuống giá và mua cổ phần khi nó bắt đầu lên giá. Đây không phải là việc đòi hỏi trí thông minh. Ngay cả một kẻ đần độn cũng có thể biết điều này.

Những từ mới đáng chú ý là: Smart, S-M-A-R-T là khôn ngoan, Stock đánh vần là S-T-O-C-K là cổ phần chứng khoán, và Moron M-O-R-O-N nghĩa là người đần độn, khờ dại. Và bây giờ xin mời quý vị nghe lại thí dụ này.

VOICE: (PAULINE): Everybody knows it’s smart to sell stocks when they start to go down and to buy when they start to go up. That’s a real no brainer, even a moron can figure it out .

TEXT: (TRANG): Tiếp theo đây là thành ngữ thứ hai.

VOICE: (PAULINE): “Push the envelope”, “Push the Envelope”.

TEXT: (TRANG): “Push the Envelope” có hai từ mới. Một là Push, P-U-S-H nghĩa là đẩy, và Envelope, E-N-V-E-L-O-P-E là cái bao thư. Giới kỹ sư Mỹ dùng thành ngữ này để chỉ một giới hạn nào đó về khả năng hoạt động, được ấn định cho máy móc hay xe cộ, mà nếu họ vượt qua thì sẽ gặp nguy hiểm hay khó khăn. Ngày nay Push the envelope cũng được dùng trong sinh hoạt hàng ngày , khi một người hành động tới giới hạn an toàn tối đa, dù trong trường hợp họ lái xe hay trong mối quan hệ giữa họ với người khác. Trong thí dụ sau đây chị Pauline nói về những phi công lái thử nghiệm các loại máy bay mới.

VOICE: (PAULINE): Test pilots often have to put themselves in danger. Sometimes they have to push the envelope to see whether a newly designed plane really can meet the limits that the designers planned.

TEXT: (TRANG): Các phi công này phải làm gì ? Họ thường khi phải tự đặt mình vào những hoàn cảnh hiểm nguy. Đôi khi họ phải bay nhanh đến mức tối đa để xem liệu một máy bay mới được thiết kế có thực sự đáp ứng đượïc những giới hạn mà các nhà vẽ kiểu đã ấn định hay không.

Những từ mới đáng chú ý là: Pilot , đánh vần là P-I-L-O-T là phi công, Danger D-A-N-G-E-R là sự nguy hiểm, Design, đánh vần là D-E-S-I-G-N nghĩa là thiết kế, và Limits L-I-M-I-T-S là giới hạn. Và bây giờ xin mời quý vị nghe lại thí dụ này.

VOICE: (PAULINE): Test pilots often have to put themselves in danger. Sometimes they have to push the envelope to see whether a newly designed plane really can meet the limits that the designers planned.

TEXT: (TRANG): Tiếp theo đây là thành ngữ thứ ba.

VOICE: ( PAULINE): The third idiom is “Cut To The Chase”, “Cut To The Chase”.

TEXT: (TRANG): “Cut To The Chase” có một từ mới là Chase đánh vần là C-H-A-S-E nghĩa là một cuộc săn đuổi. Khi người Mỹ dùng thành ngữ này, họ muốn quý vị ngưng nói loanh quanh về những chi tiết nhỏ nhặt mà đi thẳng vào trọng tâm của một vấn đề. “Cut To The Chase” xuất xứ từ các phim trường ở Hollywood. Trong nhiều cuốn phim, phần hào hứng nhất là phần chiếu cảnh saÙt lái xe thật nhanh để đuổi bắt bọn phạm pháp. Vì thế “Cut to The Chase” là hãy quay ống kính tới cảnh đuổi bắt quan trọng nhất. Thành ngữ này giờ đây được dùng rất nhiều trong giới doanh thương, như quý vị nghe trong thí dụ sau đây:

VOICE: (PAULINE): Okay, I’ve heard enough about all the details of this deal, Now let’s cut to the chase - How much money are you going to want for my share and what’s in it for me?

TEXT: (TRANG): Câu này có nghĩa như sau: Được rồi, tôi đã nghe đầy đủ về những chi tiết của vụ thương lượng này. Bây giờ chúng ta hãy đi thẳng vào vấn đề. Ông muốn bao nhiêu tiền cho phần của tôi, và tôi sẽ nhận được gì ?

Một vài từ mới mà ta cần biết là: Detail , đánh vần là D-E-T-A-I-L nghĩa là chi tiết, Share, S-H-A-R-E nghĩa là phần, và Deal, D-E-A-L nghĩa là một vụ thương lượng, mua bán. Và bây giờ xin mời quý vị nghe lại thí dụ này.

VOICE: (PAULINE): Okay, I’ve heard enough about all the details of this deal, Now let’s cut to the chase - How much money are you going to want for my share and what’s in it for me?

TEXT: (TRANG): Thí dụ vừa rồi đã kết thúc bài học thành ngữ English American Style hôm nay của đài Tiếng Nói Hoa kỳ. Như vậy là chúng ta vừa học được ba thành ngữ mới. Một là No Brainer nghĩa là một việc không đòi hỏi phải suy nghĩ nhiều, hai là Push the Envelope nghĩa là đi tới giới hạn an tòan tối đa để xem có thành công hay không, và ba là Cut To The Chase nghĩa là đi thẳng vào vấn đề. Huyền Trang xin kính chào quý vị thính giả và xin hẹn gặp lại quý vị trong bài học kế tiếp.

XS
SM
MD
LG