Thứ Tư, 16/04/2014
Xem

Tin tức

Về những văn kiện đại hội XI: I. Thiếu lập luận chặt chẽ, lẩn tránh thực tế, nói lấy được

Ðường dẫn

CỠ CHỮ - +

Một nhóm bạn sinh viên trẻ ở Hà Nội và Sài Gòn nhắn sang Paris yêu cầu nhà báo Bùi Tín đưa ra vài nhận xét về những văn kiện của đại hội XI đang và sẽ được thảo luận trong các đại hội đảng các cấp cơ sở, quận huyện, tỉnh thành, các ngành quân đội, công an, cơ quan trung ương.

Tôi vui, mừng nhận được yêu cầu này. Tuổi trẻ quan tâm đến các vấn đề chính trị của đất nước là điều quý.

Đáp lại niềm tin yêu của các bạn trẻ, tôi sẽ viết vài bài nhận xét thật khách quan, không định kiến, công bằng về những văn kiện ấy, để tùy các bạn xem xét, suy luận và có chính kiến của chính mình.

Trước hết tôi nghĩ một đảng có ý thức trách nhiệm cao với đất nước, với dân tộc cần có thái độ ngay thật, công khai minh bạch với nhân dân, có tinh thần tự phê bình thật cao, nói rõ cả những thành tích, cả những thiếu sót, lỗi lầm của chính mình, kiến nghị những giải pháp sát đúng, có hiệu quả.

Văn kiện đưa ra trước Đại hội các cấp phải là văn kiện có lập luận chặt chẽ và chính xác, dựa vào thực tiễn là thước đo của chân lý, phản ánh đúng cuộc sống thực tế, đáp ứng đúng nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân.

Trong các văn kiện chuẩn bị cho Đại hội XI, ngoài bản “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương khóa X”, có bài “Sự phát triển nhận thức của đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay” là đáng chú ý nhất.

Vì các văn kiện trên đây mang cái vẻ của một văn kiện để tuyên truyền hơn là một bản báo cáo chính trị trình đại hội đảng, thiên về nêu bật những kết quả, thắng lợi với những tính từ nhấn mạnh có phần quá đáng, còn những thiếu sót, khuyết điểm lầm lỗi thì chỉ như kể qua cho có, thiều sự thành khẩn cần thiết, nên tôi sẽ chú trọng nêu lên điều thiên lệch ấy.

Thiếu lập luận chặt chẽ, lẩn tránh thực tế là nét yếu cơ bản nhất của các văn kiện. Một số luận điểm quan trọng được đưa ra, mà chưa được lập luận chặt chẽ, thiếu sức thuyết phục. Người nghe cứ nghe mãi rồi quen đi, nhưng thực tế chưa hề được chứng minh.

a)- Ví dụ các văn kiện khi đánh giá khái quát quá trình cách mạng trong hơn 60 năm qua, đã nêu bật nhận định : “Cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đã đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên Độc lập Tự do”.

Nhận định này không có lập luận chứng minh, do không có thực tế để dẫn chứng.

65 năm nay, dân tộc ta đã có độc lập và tự do ngày càng trọn vẹn hay chưa? Độc lập của dân tộc thì có, nhưng tự do của nhân dân, tự do của công dân thì chưa. Một đất nước không có tự do báo chí, công dân không được ra báo, công dân không có điều kiện thực hiện bầu cử tự do, không có quyền tự do ứng cử bầu cử, lựa chọn đại biểu của mình như ở các đất nước tự do dân chủ khác, vậy luận điểm trên đây có giá trị chân lý hay không?

Khi tự do của người công dân trong toàn xã hội không được tôn trọng và phát huy thì nền độc lập của đất nước cũng không vững chắc vì thiếu một sự cố kết dân tộc trước hiểm họa bành trướng và xâm lăng.

Không bao giờ câu châm ngôn “Không gì quý hơn độc lập tự do” – tự do thật sự của xã hội, tự do của mỗi công dân -- lại có ý nghĩa cấp bách như hiện nay.

Khẳng định của văn kiện Đại hội XI rằng nước ta đã bước vào “Kỷ nguyên Độc lập Tự do từ tháng 8 năm 1945” là không đúng với thực tế, là sai so với cuộc sống thật hàng ngày, còn nguy hiểm vì nó che dấu khát vọng tự do cháy bỏng hiện nay của đông đảo nhân dân trong thời kỳ mở cửa hội nhập, còn nhằm bóp ngẹt khát vọng chính đáng về tự do ngôn luận, tự do sáng tạo của hàng chục vạn nhà báo viết, báo nói, báo mạng, cũng như của đông đảo văn nghệ sỹ và của toàn dân hiện nay. Cần công nhận rằng từ năm 1986 quyền tự do kinh tế, tự do kinh doanh đã được thực hiện, quyền tự do công dân có được tôn trọng như tự do di chuyển, tự do xuất ngoại để kinh doanh, du học, du lịch, chữa bệnh…, nhưng quyền tự do chính trị thì vẫn bị hạn chế ngặt nghèo do chế độ độc quyền đảng trị. Đây là một sự thật rành rành mà lãnh đạo không dám khẳng định trước nhân dân. Chính sự thiếu tự do của công dân, của báo chí, của công luận đã làm bế tắc cuộc đấu tranh chống tham nhũng lãng phí (có phỏng đoán tham nhũng lãng phí làm hao tổn 20% thu nhập quốc dân hàng năm ) và làm cho đạo đức xã hội suy đồi, tệ nạn xã hội luôn đạt mức “kỷ lục” cả về số vụ việc và tính chất nghiêm trọng, bất công xã hội lan tràn khắp nơi.

b )- Ví dụ thứ 2 là nội dung nói về “nền dân chủ và pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Văn kiện viết rất chung chung, không có dẫn chứng thực tế, nhưng lại khẳng định là: “trong khi dân chủ và pháp quyền tư bản chủ nghĩa chỉ là công cụ bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản thì dân chủ và pháp quyền XHCN là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân”.

Thực tế có đúng như thế hay không? Tôi đã nhiều năm sống trên đất Pháp, Đức, Mỹ, Canada…, quan sát tại chỗ nhiều buổi họp Quốc hội, theo dõi khá nhiều phiên tòa ở Paris, Berlin, Houston, San José (Mỹ), Ottawa (Canada), v.v., thì tôi cho rằng dân chủ đạt được mức độ như ở các nước tư bản ấy, xem ra ta sẽ còn lâu, lâu lắm mới đạt.

Ở Pháp, thường cứ vào một chiều thứ năm trong tháng, Quốc hội mở cuộc chất vấn Chính phủ, bất cứ đại biểu quốc hội nào cũng có quyền giơ tay đứng dậy đặt bất cứ một vấn đề gì cho bất cứ thành viên chính phủ nào, từ Thủ tướng, bộ trưởng đến thứ trưởng, và ngay sau đó người bị chất vấn phải trả lời lập tức, rõ ràng, cặn kẽ. Toàn là những vấn đề gai góc, phức tạp, gay cấn, mang kịch tính cao, hấp dẫn công luận, gây tranh luận xôn xao trên báo chí. Ở Hà Nội, bao giờ được như thế?

Ở các nước trên, không thể xảy ra những phiên tòa chính trị bịt mồm bị cáo, nói là xử công khai mà không cho thân nhân, bạn bè, nhà báo tự do, viên chức nước ngoài tham dự, không cho luật sư biện hộ đến cùng, những phiên tòa chỉ xử trong vòng có 3, 4 tiếng đồng hồ, với những bản án bỏ túi tiền chế.

Khẳng định rằng pháp quyền XHCN và dân chủ XHCN là ưu việt như trên đây không những là trái với sự thật, thiếu vắng thực tiễn, là giả dối, coi thường và lừa gạt các đại biểu đại hội, mà còn nguy hiểm là tỏ ra hài lòng thỏa mãn với những việc làm sai đã qua, nghĩa là cứ thế mà làm tiếp!

Ở các nước tư bản, không thể có chuyện một công dân đòi dân chủ nhân quyền bằng phương pháp bất bạo động, hòa bình lại có thể bị nhà nước kết tội kiểu vu cáo là có “âm mưu lật đổ chính quyền”. Đó là nền "dân chủ" cưỡng ép, nền tư pháp chà đạp công lý, những phiên tòa nhạo báng pháp luật, là dân chủ ngược đời, mang danh xưng "dân chủ XHCN" và danh xưng "pháp quyền XHCN" thì không làm vẻ vang gì cho CNXH cả!

Nhân đây, xin nhắn với các bạn trẻ chớ bị tác động bởi các tràng vỗ tay trong các đại hội đảng CS. Viết cho sướng tay, đọc cho sướng mồm, được nghe vỗ tay sướng tai, lãnh đạo đọc văn kiện chớ vội mừng. Nhân dân thính tai, sáng mắt hơn nhiều. Tại các đại hội đảng CS ở Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Romania…hồi xưa đều ca ngợi CNXH theo học thuyết Mác-xít, còn dự đoán CNXH Mác-xít sẽ lan rộng ra toàn thế giới, nhưng sau đó tất cả những cương lĩnh XHCN chủ quan, duy ý chí, hoang tưởng ấy đều bị phong trào dân chủ của nhân dân bác bỏ, đến nay không một ai tại đó còn nhắc đến CNXH Mác-xít kiểu độc đảng nữa. Thất bại triệt để chỉ vì những cương lĩnh CNXH Mác-xít ấy không dựa trên những lập luận vững chắc và những cơ sở thực tế của cuộc sống.

Các bạn trẻ hãy có tư duy độc lập, tỉnh táo, sẽ tự tìm ra thêm trong những văn kiện Đại hội XI không ít những luận điểm chủ quan, dễ dãi, giáo điều, không thực tế, thiếu tinh chất khoa học mà nền chính trị hiện đại đòi hỏi.(còn tiếp nhiều kỳ )


Bùi Tín

Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.
Diễn đàn này đã đóng.
Ý kiến
     
Chưa có ý kiến ​​trong diễn đàn này. Bạn hãy là người đầu tiên góp ý