Thứ bảy, 28/03/2015
Xem

Blog / Nguyễn Hưng Quốc

Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam

Lời tác giả: Trong bài này, tôi chỉ dừng lại ở thời điểm 1990. Mọi diễn biến sau đó sẽ không được bàn đến. NHQ

Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam

Tên cũ của Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật là Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam là Hội Văn hoá Cứu quốc.

Hội Văn hoá Cứu quốc là một thành viên của Mặt trận Việt Minh và là tổ chức văn nghệ đầu tiên của cộng sản tại Việt Nam. Hội Văn hoá Cứu quốc chỉ khác các tổ chức xã hội khác của Việt Minh ở hai điểm: một là, không có quan hệ hàng ngang với các tổ chức đảng hoặc đoàn thể tại địa phương mà phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương đảng; hai là, tuy bí mật về phương diện tổ chức nhưng lại cố gắng tranh thủ mọi điều kiện hợp pháp để hoạt động công khai.

Trên danh nghĩa, Hội Văn hoá Cứu quốc ra đời từ tháng 4 năm 1943, tuy nhiên, lúc ấy hội viên của Hội chỉ có mấy người: Như Phong, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài… Đầu năm 1944, một số người bị bắt. Hội Văn hoá Cứu quốc chỉ thực sự bắt đầu hoạt động mấy tháng trước Cách mạng tháng Tám.

Chủ trương của Hội Văn hoá Cứu quốc khá rộng rãi: tập họp tất cả những văn nghệ sĩ có lập trường dân tộc nhưng không nhất thiết phải đồng nhất với nhau về quan điểm chính trị hay văn hoá. Mỗi người được tự do sáng tác theo phương pháp và sở thích của mình. Hội chỉ đòi hỏi một điều rất dễ được chấp nhận lúc ấy: mọi người, bằng những cách thức khác nhau, góp phần tranh đấu giành lại độc lập cho tổ quốc từ trong tay thực dân Pháp.

Sau Cách mạng tháng Tám, Hội Văn hoá Cứu quốc ra hoạt động công khai. Chủ tịch đầu tiên là Nguyễn Đình Thi. Tại cuộc Hội nghị mở rộng của Ban chấp hành Hội Văn hoá Cứu quốc vào ngày 28.3.1946, Trần Huy Liệu được bầu làm chủ tịch. Đến tháng 10 năm 1946, trong Đại hội văn hoá toàn quốc, Ban chấp hành mới có nhiệm kỳ hai năm 1946-1947 gồm: chủ tịch: Đặng Thai Mai; tổng thư ký: Hoài Thanh; phó tổng thư ký: Tố Hữu và Nguyễn Huy Tưởng; các ủy viên: Văn Cao, Nguyễn Quang Châu, Nguyễn Đỗ Cung, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Văn Tỵ và Chế Lan Viên.

Hội Văn hoá Cứu quốc có cơ quan ngôn luận là tạp chí Tiên Phong và nhà xuất bản Văn hoá Cứu quốc.

Tạp chí Tiên Phong được chuẩn bị từ trước Cách mạng tháng Tám, tuy nhiên, chưa ra đời, Cách mạng đã bùng nổ. Các hội viên bận bịu với các cuộc vận động chính trị và xã hội có nhiều khó khăn nên mãi đến tháng 11 năm 1945, tạp chí mới thực sự phát hành. Thư ký toà soạn đầu tiên là Nam Cao.

Hội Văn hoá Cứu quốc phát triển thành nhiều cơ sở nhỏ ở các địa phương. Những cơ sở nhỏ này hoặc mang tên Chi Hội Văn hoá Cứu quốc hoặc mang tên Liên đoàn Văn hoá cứu quốc. Địa phương thành lập Chi hội Văn hoá sớm nhất là Huế: ngày 19.9.1945, Trần Hữu Dực làm chủ tịch, Nguyễn Duy Trinh làm phó chủ tịch. Sau đó ít lâu, chức chủ tịch chuyển qua tay Hoài Thanh. Sau Huế là Quảng Nam (20.9.45), Quảng Trị (26.9.45), Nghệ An (8.10.45).

Ở Sài Gòn, từ tháng 9 năm 1945, có một nhóm người họp bàn thành lập Hội Văn hoá Cứu quốc nhưng không thành công do những mâu thuẫn trong nội bộ quá gay gắt. Cho đến ngày bị giải thể, Hội Văn hoá Cứu quốc cũng không hề có được một cơ sở nào ở Nam bộ.

Nền tảng tư tưởng chỉ đạo hoạt động của Hội Văn hoá Cứu quốc là bản Đề cương văn hoá do đảng Cộng sản Đông Dương công bố năm 1943. Trong bản Đề cương này, cộng sản chưa dám đề cập đến vấn đề xã hội chủ nghĩa mà chỉ dùng khái niệm “nền văn hoá mới”, “có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung”. Ba nguyên tắc của “nền văn hoá mới” này là: Dân tộc hoá, Đại chúng hoá và Khoa học hoá.

Trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất do Việt Minh tổ chức tại Phú Thọ từ ngày 23 đến 25 tháng 7 năm 1948, Hội Văn hoá Cứu quốc bị giải thể và một tổ chức mới ra đời: Hội Văn nghệ Việt Nam. So với Hội Văn hoá Cứu quốc, Hội Văn nghệ được tổ chức chặt chẽ hơn, ngoài bộ phận trung ương, còn có bộ phận chuyên ngành như Đoàn nhạc sĩ, Đoàn sân khấu, Đoàn nhà văn… và các chi hội văn nghệ của các liên khu, các khu và các tỉnh.

Chỉ có mấy Chi hội văn nghệ địa phương thực sự có hoạt động: Chi hội văn nghệ Liên khu Ba, được thành lập vào tháng 10 năm 1948, do Lương Xuân Nhị làm tổng thư ký; Chi hội văn nghệ Liên khu Bốn cũng được thành lập trong năm 1948 do Lưu Trọng Lư làm chi hội trưởng; Chi hội văn nghệ Liên khu Năm được thành lập năm 1950 do Nam Trân làm chi hội trưởng; Chi hội văn nghệ Nam bộ được thành lập ngày 3.1.1950 do Lưu Quý Kỳ làm chi hội trưởng.

Ban chấp hành đầu tiên của Hội Văn nghệ Việt Nam gồm có mười bảy người, do nhà văn Nguyễn Tuân làm tổng thư ký, Tố Hữu làm phó tổng thư ký. Không nên nhầm lẫn cho là lúc này quyền hạn của Nguyễn Tuân lớn hơn Tố Hữu. Thực quyền vẫn nằm gọn trong tay Tố Hữu, lúc ấy là một cán bộ chuyên trách về văn nghệ của đảng. Nguyễn Tuân chỉ là kẻ cho mượn cái tên, cái uy tín của ông để Hội Văn nghệ dễ tập họp giới cầm bút lớn tuổi, đã có nhiều danh vọng trong quá khứ, trước năm 45.

Sau này, Nguyễn Tuân kể lại:

“Cái đại hội ở Việt Bắc năm bốn tám là vui nhất. Khổ mà vui, nghèo mà lành, các nhà văn ta lúc đó đói rách lắm mà đẹp lắm, thương nhau lắm. Toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng, vì độc lập và tự do của dân tộc, trong đó có bản thân mình… Cái kỳ đó tôi có đọc tham luận. Đang đọc dở thì tôi dừng lại, xin phép đại hội cho tôi kể một chuyện tiếu lâm. Chuyện “cái rắm thơm, cái rắm thối” ấy mà. Sau đó tôi đọc tham luận tiếp. Lúc xuống bục diễn đàn về ngồi ghế chủ tịch, một người… bỏ nhỏ vào tai tôi: Ông to gan thật. Cái câu chuyện ông kể là có vấn đề đấy”.

Rồi Nguyễn Tuân kể tiếp:

“Lúc đó, tôi nào để tâm cái vấn đề đó là sao. Và quả là sau đó cũng chả có vấn đề gì cả. Tôi vẫn trúng cử với phiếu cao. Cái đại hội năm năm tám mà nói năng kiểu đó nữa thì bỏ mẹ chứ chả chơi, thì dứt khoát là có vấn đề ngay. Đến bây giờ thì lại càng có vấn đề” (1).

Thật ra, cái không khí cởi mở, thoải mái ấy không phải đợi đến năm 1958 mới bị khai tử. Nó bị khai tử sớm hơn nhiều, từ cuộc tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc năm 1949, đặc biệt từ năm 1951, lúc cộng sản phát động các chiến dịch chỉnh quân, chỉnh huấn, rồi tiếp theo đó, cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu kéo dài mãi đến năm 1956.

Cơ sở tư tưởng của Hội Văn nghệ là bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam do Trường Chinh trình bày trong Đại hội văn hoá toàn quốc lần thứ hai được tổ chức trước Đại hội văn nghệ mấy ngày (16-20.7.1948). Trong bản báo cáo, Trường Chinh xác định lập trường văn học nghệ thuật của cộng sản: “Về xã hội, lấy giai cấp công nhân làm gốc. Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội làm gốc. Về tư tưởng, lấy học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm gốc. Về sáng tác văn nghệ lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm gốc”. Phương châm xây dựng văn hoá được lấy lại nguyên dạng trong bản Đề cương văn hoá năm 1943: Dân tộc hoá, Khoa học hoá và Đại chúng hoá.

Cơ quan ngôn luận của Hội Văn nghệ thời gian chống Pháp là tạp chí Văn nghệ. Ban biên tập đầu tiên của tạp chí gồm: Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng và Kim Lân. Văn Cao và Trần Văn Cẩn phụ trách kỹ thuật. Theo hồi ức của Vũ Đức Phúc, tạp chí Văn Nghệ thời gian này bán rất ế ẩm, “cả tỉnh chỉ được gửi về độ dăm bảy quyển mỗi kỳ, nhưng ngoài một số người như chúng tôi, còn thì không ai để ý mua những sách báo ấy cả” (2).

Tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai được tổ chức vào tháng 2 năm 1957 tại Hà Nội, Hội Văn nghệ Việt Nam đổi tên thành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam bao gồm bảy hội chuyên môn:

-        Hội Nhà văn
-        Hội nghệ sĩ tạo hình
-        Hội nhạc sĩ
-        Hội nghệ sĩ sân khấu
-        Hội điện ảnh
-        Hội kiến trúc sư
-        Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh

Và các Hội văn nghệ ở các địa phương (3).

Cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam vẫn là tạp chí Văn Nghệ, sau đổi thành tuần báo Văn Nghệ. Từ năm 1977, tuần báo Văn Nghệ trở thành cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn.

Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam từ lúc thành lập cho đến năm 1948 là Đặng Thai Mai.

Trong Hội nghị đại biểu các Hội Văn học nghệ thuật toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 26 đến 27.4.1984, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam được đổi tên thành Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Ban chấp hành gồm: chủ tịch Cù Huy Cận; các phó chủ tịch: Nguyễn Đình Thi, Trần Văn Cẩn, Lưu Hữu Phước; các ủy viên: Tô Hoài, Bảo Định Giang, Lý Thái Bảo, Dương Ngọc Đức, Nguyễn Trực Luyện, Hoàng Lư Trai và Dương Viên.

Trên danh nghĩa, Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam là một bộ phận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (4), nhưng Ủy ban lại chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương (hiện nay là Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương). Giữa Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Bộ Văn hoá chỉ có quan hệ về hành chánh và tài chánh: Bộ Văn hoá có trách nhiệm bảo trợ và tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho các Hội văn nghệ hoạt động như xây dựng nhà sáng tác, nhà an dưỡng, phương tiện ấn loát và phát hành…

Cơ cấu tổ chức của Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam vẫn bao gồm bảy Hội chuyên ngành và các Hội văn nghệ địa phương như Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam trước đây. Từ ngày 15.10.1986, cộng sản thành lập thêm một tổ chức mới cũng trực thuộc Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam: Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật phát thanh và truyền hình do Hoàng Ngọc Anh làm tổng thư ký.

Như vậy, Hội Nhà văn Việt Nam chỉ là một tổ chức bộ phận của Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Đến đây chúng ta có thể hình dung cơ cấu tổ chức qua đó cộng sản thực hiện quyền lãnh đạo cũng như kiểm soát giới văn nghệ sĩ cùng tất cả các hoạt động của họ như sau:

Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam

(Trích từ cuốn Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản, Văn Nghệ xuất bản lần đầu tại California, 1991)

***

Chú thích:

1. Tuần báo Văn Nghệ, HN, số 35 ra ngày 29.8.1987.
2. Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập 1, sđd, tr. 115.
3. Theo tạp chí Văn Học tại Hà Nội số 1 năm 1985, vào năm 1983, cộng sản đã thành lập được 26 Hội văn nghệ ở các địa phương, có chín Hội nữa đang thời kỳ vận động thành lập.
4. Trong quyển Đổi mới và chính sách xã hội, văn hoá, nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1988, Trần Độ, viết: “Ở trung ương có Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Đây không phải là một hội đoàn mà là một ủy ban. Ủy ban này có chức năng “liên hiệp” các hội đoàn chuyên ngành và một số hội đoàn địa phương, thực hiện chức năng “mặt trận”, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, làm những nhiệm vụ vận động chính trị, chính sách đối ngoại mà từng hội, từng ngành không có điều kiện làm riêng hoặc không nên làm riêng” (tr. 204).

Xin nhắc lại: Mặt trận Tổ quốc được thành lập tại Hà Nội tháng 9 năm 1955, vốn là hậu thân của Mặt trận Liên Việt được thành lập năm 1951, do sự hợp nhất giữa Mặt trận Việt Minh (thành lập năm 1941) và Mặt trận Liên Việt (thành lập năm 1945). Mặt trận Tổ quốc có cơ quan ngôn luận riêng, trước là báo Cứu quốc, sau, từ tháng 3-1977, đổi tên là báo Đại đoàn kết.


Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Diễn đàn này đã đóng.
Ý kiến
     
Chưa có ý kiến ​​trong diễn đàn này. Bạn hãy là người đầu tiên góp ý

Blog

Bàn thêm về tư nhân hóa

Những nỗi lo sợ mới đây liên quan đến cổ phần hóa chủ yếu là do việc bán các tài sản trọng yếu trong lĩnh vực hạ tầng
Thêm

Ai là kẻ thù của Việt Nam?

Ở Việt Nam lâu nay, giới cầm quyền cũng như giới truyền thông hay nói đến những 'thế lực thù địch'
Thêm

Gió Xuân đã đổi chiều

Hà Nội đang sôi động, hàng trăm người đã tự động xuống đường để bảo vệ cây xanh của thành phố
Thêm

Làn sóng tư nhân hóa mới: những nỗi sợ

Theo Cựu Thủ tướng Anh Tony Blair, 'cải cách mà không có chống đối thì là kém, sự chống đối là đương nhiên và quá trình cải cách cần phải vượt qua'
Thêm
Các bài viết khác

Bạn đọc làm báo

Xem ‘Nước 2030’ nghĩ về phim Việt

Trong những ngày qua, vài rạp tại San Francisco có chiếu phim do những đạo diễn gốc Việt từ Mỹ về Việt Nam quay và sản xuất
Thêm

40 năm nhìn lại: Kết thúc một quá trình, một cuộc chiến

Thảm cảnh bắt đầu từ vụ Buôn Mê Thuột thất thủ, tiếp đến là quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bỏ ngỏ Cao nguyên, di tản chiến thuật
Thêm

Vì sao TQ cấm làm đường gần biên giới, còn VN lại mở toang cửa ngõ biên giới với TQ?

Quân đội TQ đã ngưng dự án làm đường của chính quyền một thành phố nằm gần biên giới VN vì lo ngại nó có thể được sử dụng cho một 'cuộc xâm lược của Việt Nam'
Thêm

Một cuộc tàn sát môi trường của chính quyền Hà Nội

Chính quyền Hà Nội đã tiến hành 'dự án' chặt hạ 6.700 cây xanh lâu năm trên 190 tuyến phố, để lại những đường phố huơ huếch, xém cháy dưới mặt trời
Thêm

Tổng Trọng, Tướng Quang ‘qui mã’

Sự kiện ông Trọng thăm Mỹ có thể đưa Hà Nội đến gần hơn nữa với Washington, kể từ khi quan hệ Việt - Trung trở nên căng thẳng sau vụ giàn khoan HD-981
Thêm
Các bài viết khác
JavaScript của bạn đang tắt hoặc bạn có phiên bản Flash Player cũ của Adobe. Hãy trang bị Flash player mới nhất.
Việt Nam đóng vai trò chủ chốt trong cuộc chiến viện trợ Nhật-Trungi
X
28.03.2015
Tin tức: http://www.facebook.com/VOATiengViet, http://www.youtube.com/VOATiengVietVideo, http://www.voatiengviet.com. Nếu không vào được VOA, xin các bạn hãy vào http://vn3000.com để vượt tường lửa. Vị trí chiến lược trên tuyến đường vận chuyển dầu hỏa đã đặt Việt Nam vào vai trò then chốt trong cuộc chiến giành vị trí nổi trội về kinh tế của Nhật Bản và Trung Quốc ở châu Á. Cả Tokyo và Bắc Kinh đều đang cố sức đổ đầu tư và viện trợ vào Việt Nam cùng với việc xây dựng các cơ sở chế biến chi phí thấp ở đây. Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã tăng viện trợ cho Việt Nam nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Trong năm 2014, nước này đã cung cấp khoảng 1,8 tỷ đô la, xây dựng một ga mới cho phi trường quốc tế ở Hà Nội và một đường cao tốc để đưa du khách vào thủ đô.
Video

Video Việt Nam đóng vai trò chủ chốt trong cuộc chiến viện trợ Nhật-Trung

Vị trí chiến lược trên tuyến đường vận chuyển dầu hỏa đã đặt Việt Nam vào vai trò then chốt trong cuộc chiến giành vị trí nổi trội về kinh tế của Nhật Bản và Trung Quốc ở châu Á.
Video

Video Đài Loan theo dõi sát hoạt động của Việt Nam ở Trường Sa

Chính quyền Đài Loan đang theo dõi sát hàng loạt các hoạt động xây cất của các nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Video

Video Phi công phụ máy bay Germanwings che giấu bệnh

Viên phi công phụ được tin là đã cố tình đâm chiếc máy bay Airbus xuống núi Alps giấu bệnh tình của anh với công ty mướn anh vào làm việc, theo lời các công tố viên Đức.
Video

Video Hội thảo xã hội dân sự Việt-Philippines về tranh chấp Biển Đông

Một cuộc hội thảo tìm cách giáo dục hiểu biết của dân chúng và nâng cao nhận thức của cộng đồng quốc tế về tranh chấp Biển Đông do các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam và Philippines phối hợp tổ chức diễn ra tại Philippines.
Video

Video Trung Quốc nói Philippines ‘đạo đức giả’ trong vấn đề Biển Đông

Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay bày tỏ ‘quan ngại sâu sắc’ và tố cáo Philippines xâm phạm chủ quyền Bắc Kinh sau khi Manila tuyên bố sẽ tái tục các hoạt động sửa chữa và tái thiết trên các hòn đảo có tranh chấp ở Biển Đông.