Đường dẫn truy cập

Mở đầu bài viết tưởng niệm Lý Quang Diệu đăng trên báo The Washington Post, Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Mỹ, người được xem là tổng công trình sư về chính sách đối ngoại của Mỹ thời chiến tranh lạnh, nhận định: “Lý Quang Diệu là một vĩ nhân” (Lee Kuan Yew is a great man). Cựu Thủ tướng Anh, Tony Blair, cho Lý Quang Diệu là lãnh tụ sắc sảo nhất mà ông từng được gặp (the smartest leader I ever met). Tổng thống Mỹ Barack Obama cho Lý Quang Diệu là một “người khổng lồ đích thực của lịch sử”, “một hình ảnh truyền thuyết của châu Á trong thế kỷ 20 và 21”.

Những lời khen ấy xuất phát từ ba sự kiện: Thứ nhất, từ góc độ cá nhân, Lý Quang Diệu bao giờ cũng chứng tỏ là một con người thông minh và sâu sắc đủ để chinh phục sự ngưỡng mộ của những người gặp ông và trao đổi với ông. Thứ hai, với tư cách một lãnh tụ, ông đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc biến Singapore từ một hòn đảo nhỏ, nghèo nàn và lạc hậu, một cựu thuộc địa của Anh và là một trong những địa phương khiêm tốn trong Liên bang Malaysia, trở thành một quốc gia tiên tiến và giàu có, có thu nhập trên đầu người cao hơn hẳn Malaysia và cả nước Anh. Thứ ba, với tư cách một chính khách, Lý Quang Diệu đã có những ảnh hưởng sâu rộng trên phạm vi thế giới. Mặc dù người ta không gắn sau tên ông chữ “ism”, kiểu chủ nghĩa Lý Quang Diệu (Lee-ism) như người ta từng làm với Reaganism hay Thatcherism, nhưng giới nghiên cứu chính trị đều đồng ý Lý Quang Diệu có một quan niệm riêng, một chiến lược riêng trong việc xây dựng và phát triển đất nước khác hẳn các chính khách khác. Chiến lược ấy được rất nhiều nhà lãnh tụ rải rác trên thế giới ngưỡng mộ và bắt chước.

Với những ảnh hưởng ấy, Lý Quang Diệu được xem là một bậc thầy có tầm quốc tế trong nửa sau thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21. Tư cách bậc thầy ấy thể hiện qua hai khía cạnh chính: Một là những chính sách cụ thể mà Lý Quang Diệu sử dụng một cách hữu hiệu để xây dựng Singapore thành một cường quốc và hai là những chiến lược ông sử dụng để xây dựng bộ máy cai trị tại đất nước của ông. Ở khía cạnh thứ nhất, nói theo lời của Thủ tướng Anh David Cameron, Singapore là một trong những “câu chuyện thành công vĩ đại” (one of the great success stories) của thời hiện đại. Ở khía cạnh thứ hai, nói theo lời Tổng thống Obama, “không ít lãnh tụ thuộc thế hệ này cũng như các thế hệ trước xin những lời khuyên của ông” trong vấn đề cai trị.

Ở cả hai khía cạnh vừa nêu, bậc thầy Lý Quang Diệu để lại những di sản vừa tốt vừa xấu.

Tốt ở nhiều điểm: Ông mang lại niềm tự tin cho nhiều lãnh tụ về quá trình xây dựng đất nước của họ sau những thời gian dài chiến tranh hoặc lệ thuộc; ông khuyến khích mọi người quan tâm đến lãnh vực giáo dục cũng như chính sách chiêu hiền đãi sĩ trong quá trình hiện đại hoá đất nước; ông nêu bật lên tầm quan trọng không thể thay thế được của một nền quản trị minh bạch và hiệu quả; ông nhấn mạnh đến việc bài trừ tham nhũng; ông dạy người ta tinh thần thực tế và thực dụng, không bám víu một cách mù quáng và nô lệ vào các lý thuyết hay các thứ chủ nghĩa, đặc biệt chủ nghĩa cộng sản, v.v…

Nhưng di sản xấu của Lý Quang Diệu cũng không ít.

Thứ nhất, ông tạo nên một mô hình phát triển nguy hiểm.

Trước, hầu như mọi nhà nghiên cứu đều cho dân chủ là một trong những tiền đề tiên quyết của phát triển. Sự thành công của chủ nghĩa tư bản, ở lãnh vực kinh tế cũng như chính trị, cao hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội vốn cuối cùng bị sụp đổ vào đầu thập niên 1990, là ở chỗ: chủ nghĩa tư bản có tự do hơn. Tính chất tự do và dân chủ của chủ nghĩa tư bản không phải chỉ xuất phát từ những nguyên tắc nhân quyền chung chung mà còn xuất phát từ một thực tế: chúng khuyến khích óc sáng tạo và tinh thần cạnh tranh lành mạnh của mọi người, một nhân tố quan trọng để đất nước càng ngày càng tân tiến và thịnh vượng.

Sau, với sự thành công của Singapore, người ta thấy có một khả năng lựa chọn khác: một đất nước có thể tiến bộ vượt bậc mà không cần phải dân chủ hoá. Người ta gọi đó là một nền “độc tài mềm” (soft dictatorship) hoặc “chủ nghĩa tư bản chuyên chế” (authoritarian capitalism) mà Singapore là một tấm gương tiêu biểu nhất.

Điều đó giải thích tại sao lãnh tụ của rất nhiều quốc gia độc tài tìm đến với Lý Quang Diệu, xem Lý Quang Diệu như một cố vấn đáng tin cậy. Một trong những người ấy là Đặng Tiểu Bình. Cuối thập niên 1970, sau cái chết của Mao Trạch Đông và sau khi đánh dẹp “bè lũ 4 tên”, Đặng Tiểu Bình xem Singapore như một mẫu mực ông noi theo để vừa có thể hiện đại hoá Trung Quốc vừa có thể giữ được tính chất độc tôn của đảng cộng sản như điều Lý Quang Diệu đã làm với đảng Hành Động Nhân Dân của ông. Để học bài học của Lý Quang Diệu, Đặng Tiểu Bình đã gửi hàng chục ngàn cán bộ các cấp sang Singapore học tập. Ông cũng mời Lý Quang Diệu sang thăm Trung Quốc cả hang chục lần. Ngày Lý Quang Diệu qua đời, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố khen ông là một “chính khách có ảnh hưởng độc nhất ở châu Á và là một nhà chiến lược kết tinh được những giá trị đông phương và một viễn kiến mang tính quốc tế”. Ảnh hưởng của Lý Quang Diệu trên Trung Quốc lớn đến độ có người cho ông chính là “cha đẻ của Trung Quốc hiện đại” (“Lee Kuan Yew: The Father of Modern China?”)

Ngoài Đặng Tiểu Bình và các lãnh tụ khác ở Trung Quốc, Lý Quang Diệu còn có một số người khác rất ngưỡng mộ ông và muốn noi theo gương của ông, trong số đó, đáng kể đầu tiên là Vladimir Putin, người đã tặng cho Lý Quang Diệu một huân chương danh dự để bày tỏ sự tôn kính đối với những đóng góp lớn lao của Lý Quang Diệu trên phạm vi thế giới. Ở Georgia, Mikhail Saakashvili cũng xem Lý Quang Diệu như một thần tượng, sách của Lý Quang Diệu được dịch, in, lưu hành và đọc như những cuốn kinh thánh. Ở Ukraine, Viktor Yanukovych cũng rất sùng bái Lý Quang Diệu và xem Singapore như một mô hình để xây dựng đất nước của ông.

Nói một cách vắn tắt, ở rất nhiều nơi trên thế giới, từ Trung Quốc đến Nga và một số quốc gia cựu cộng sản khác đều xem Singapore như một bài học lớn, ở đó, người ta, một mặt, có thể phát triển, mặt khác, vẫn tiếp tục duy trì một nền chính trị hà khắc, trên sự thống trị của một đảng duy nhất.

Di sản nguy hiểm thứ hai của Lý Quang Diệu là ông tạo cho người ta cái ảo tưởng là có những nền văn hoá thích hợp với dân chủ và có những nền văn hoá thì không. Nền tảng quan trọng nhất trong lý thuyết về chính trị của Lý Quang Diệu là quan niệm về các giá trị châu Á (Asian values) vốn, theo ông, khác hẳn với văn hoá Tây phương. Nếu ở Tây phương, người ta đề cao chủ nghĩa cá nhân thì ở châu Á, người ta đề cao tinh thần tập thể; ở Tây phương, người ta khuyến khích óc cạnh tranh; ở châu Á, người ta tìm kiếm sự đồng thuận. Với những khác biệt ấy, ở Tây phương người ta cần tự do và dân chủ, ở châu Á, người ta có thể hài lòng với một chế độ chính trị nhắm đến việc xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương và giàu có.

Quan niệm này của Lý Quang Diệu giúp các chế độc độc tài hoặc bán độc tài ở châu Á cũng như ở Đông Âu biện hộ cho các chính sách độc đoán của họ. Nhiều học giả cho quan niệm của Lý Quang Diệu và huyền thoại Singapore đã có ảnh hưởng tai hại đến rất nhiều quốc gia trên thế giới, ở đó, chế độ độc tài có thể tiếp tục độc tài hoặc chế độ vừa mới thoát khỏi độc tài cộng sản lại quay sang một chế độ độc tài kiểu mới.

Nói Lý Quang Diệu là một chính khách giỏi nhưng lại là một người thầy xấu là vậy.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Hiển thị bình luận

XS
SM
MD
LG