Đường dẫn truy cập

Dạy tiếng Việt trong môi trường song ngữ: sự tương tác giữa gia đình và học đường (2)


Tất cả những mặt mạnh của các trẻ em song ngữ gốc Việt so với trẻ em ở Việt Nam hoặc với người ngoại quốc học tiếng Việt như một ngoại ngữ kể trong phần trước đều ở trong tình trạng đầy bất trắc. Tình trạng quân bình giữa tiếng Việt và tiếng Anh ở các em lúc nào cũng đối diện với nguy cơ bị phá vỡ. Trong thế phá vỡ ấy, tiếng Việt không những có nguy cơ trở thành thứ yếu mà còn có nguy cơ bị giảm trừ, cuối cùng, thành thụ động, nếu không nói là bị quên lãng. Những mặt mạnh ấy chỉ có thể được phát huy với một điều kiện: tiếng Việt của các em được tiếp tục duy trì và phát triển.

Có hai nơi chịu trách nhiệm chính cho việc duy trì và phát triển ấy: gia đình và học đường. Trong việc học ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ, học đường là nơi quan trọng nhất; trong việc học tiếng mẹ đẻ của người song ngữ, ngược lại, nơi quan trọng nhất lại là gia đình.

Tầm quan trọng ấy nằm ở ba điểm:

Một, hầu hết các em đều học tiếng Việt từ gia đình, ít nhất ở hai kỹ năng nghe và nói, trước khi thực sự bước vào lớp học. Cho dù thời gian học tiếng Việt này khá ngắn, chỉ khoảng bốn năm năm, nhưng đó lại là thời gian quan trọng nhất để các em có thể làm chủ được hai yếu tố cơ bản nhất của việc học ngôn ngữ: ngữ âm và cú pháp. Về ngữ âm, hầu hết các em đều có khả năng phát âm đúng mọi âm căn bản, từ nguyên âm đến phụ âm và thanh điệu. Về cú pháp, các em đã nắm được các nguyên tắc tạo từ và tạo câu, ví dụ, trong tiếng Anh, về thì, số và cách; trong tiếng Việt, về trật tự của từ trong câu.

Hai, sau khi các em đã đi học, thời gian các em học và thực tập tiếng Việt ở nhà vẫn nhiều hơn hẳn ở trường: trong khi các em chỉ đến lớp học tiếng Việt mỗi tuần hai hoặc ba tiếng, thời gian các em có thể nghe và nói tiếng Việt ở nhà với ông bà, bố mẹ và anh chị em có thể lên đến vài ba tiếng một ngày.

Ba, chính gia đình là nơi nuôi dưỡng động lực để các em cảm thấy thích thú và chuyên cần học tiếng Việt: Khác với việc học ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ vốn được lựa chọn một cách tự giác, hoặc dựa trên sở thích hoặc dựa trên lợi ích, việc học tiếng mẹ đẻ của người song ngữ thường xuất phát từ những lý do tình cảm và với sự khuyến khích, có khi thúc ép, của bố mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà ở đâu số học sinh tiểu học học tiếng Việt cũng nhiều hơn hẳn số học sinh trung học hoặc đại học: Ở đây, kẻ quyết định việc học là bố mẹ. Chứ không phải các em. Khi các em đủ lớn để có thể tự quyết định việc học của mình, tiếng Việt chỉ còn là một ưu tiên thứ yếu.

Trong quan hệ với gia đình, các lớp tiếng Việt chỉ đóng vai trò phụ thuộc. Không có một giáo viên nào, dù tận tâm và xuất sắc đến mấy, có thể làm cho một học sinh trở thành giỏi tiếng Việt được nếu không có sự trợ giúp của gia đình. Ngoài lý do thời gian, còn có lý do này nữa: môi trường. Môi trường song ngữ có sức cạnh tranh gay gắt hơn môi trường ngoại ngữ. Trong các lớp ngoại ngữ, phần lớn học sinh có một điểm xuất phát giống nhau. Trong lớp song ngữ, trình độ học sinh thường rất chênh lệch; và lý do của sự chênh lệch ấy đều xuất phát từ gia đình. Từ sự chênh lệch ấy, những em không được sự giúp đỡ của gia đình sẽ càng ngày càng bị tụt lại đằng sau, và cuối cùng, nản chí và bỏ học.

Có thể nói chức năng chính của các trường Việt ngữ ở hải ngoại là một sự tiếp sức, ở đó, các em được tiếp tục học những gì các em đã và đang học trong gia đình.
Có thể hình dung quan hệ việc học tiếng Việt trong gia đình và ở nhà trường ở hải ngoại như sau:

Trong gia đình Trong lớp
Ngữ âm Cách phát âm học từ gia đình, do ảnh hưởng của bố mẹ, thường có tính chất phương ngữ rõ rệt mặc dù các em không ý thức về tính phương ngữ ấy Học cách phát âm “chuẩn” hoặc ít nhất, cách phát âm từ các phương ngữ khác
Kỹ năng Thường chỉ tập trung vào hai kỹ năng: nghe và nói Bổ sung hai kỹ năng khác: đọc và viết
Từ vựng Thường giới hạn trong phạm vi gia đình và sinh hoạt hằng ngày Mở rộng sang nhiều lãnh vực khác trong xã hội, hoặc cao hơn, có tính học thuật
Chính tả Không hoặc rất ít được chú ý Một trong những nội dung chính của việc giảng dạy
Cú pháp Thường là những câu đơn giản và phi nghi thức (informal) Mở rộng sang những câu phức và có tính nghi thức (formal)
Thể loại Giới hạn trong ngôn ngữ nói Mở rộng sang ngôn ngữ viết với nhiều thể loại khác nhau, từ thực dụng (thư từ, quảng cáo…) đến văn học
Ý thức liên văn hóa Sự lễ phép với người lớn Phép lịch sự với mọi người trong xã hội cũng như các chiến lược giao tiếp khác

Trong việc dạy tiếng Việt cho trẻ em song ngữ, các lớp Việt ngữ chỉ là một sự tiếp sức. Tuy nhiên, những sự tiếp sức ấy chỉ có hiệu quả nếu nó được gia đình tiếp sức trở lại bằng cách: một, tiếp tục tạo cơ hội cho các em thực hành những điều các em đã học trong lớp; và hai, tiếp tục nuôi dưỡng động cơ học tập của các em để các em thấy việc học trong lớp là có ý nghĩa và cần thiết, từ đó, tiếp tục cố gắng và chuyên cần.

Như vậy, quan hệ giữa gia đình và học đường là mối quan hệ hai chiều. Cả hai đều có trách nhiệm giống nhau, bổ sung cho nhau và không thể giao trắng cho một phía.
Về phía gia đình, đặc biệt với phụ huynh, theo tôi, cần có mấy việc chính cần làm:
  1. Sử dụng tiếng Việt trong nhà
  2. Thường xuyên nói chuyện bằng tiếng Việt với các em. Tập trung vào những vấn đề các em đang thích. Gợi chuyện để các em nói tiếp
  3. Đừng bao giờ cười nếu các em nói sai
  4. Đừng sửa. Chỉ nói lại cho đúng để các em bắt chước
  5. Tạo môi trường tiếng Việt trong gia đình: xem tivi, nghe radio và đọc sách báo tiếng Việt
  6. Giúp các em làm bài tập trong lớp
  7. Giảng thêm bài trong lớp, nếu cần
  8. Không phê phán các thầy cô giáo hay sách giáo khoa
Để hoàn thành vai trò ấy, phụ huynh cần ít nhất mấy điều:
  1. Hiểu tầm quan trọng của song ngữ, trong đó có các lợi ích của việc học tiếng Việt
  2. Hiểu, dù một ít, phương pháp dạy tiếng Việt
  3. Quyết tâm và kiên nhẫn thực hiện việc dạy và nói tiếng Việt hằng ngày
  4. Có thái độ hợp tác với các lớp tiếng Việt: Không phải chỉ chịu khó chở con em đến trường mà lúc nào cũng cố gắng tạo sự tin cậy của các em đối với trường, lớp và các thầy cô giáo.
Về phía giáo viên và nhà trường, có mấy điều cần chú ý:
  1. Tạo sự sinh động trong lớp để các em cảm thấy thích thú trong việc học tiếng Việt
  2. Tận dụng các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt có sẵn của các em
  3. Ưu tiên dạy những điều gần gũi với đời sống hàng ngày để các em có cơ hội thực hành
  4. Tự giác hóa những điều các em được học một cách tự phát trong gia đình, từ đó, củng cố và mở rộng kiến thức cũng như các năng lực ngôn ngữ và giao tiếp của các em
  5. Phân tích, với mức độ sâu cạn khác nhau, tùy trình độ của học sinh, về các đặc điểm văn hóa đằng sau tiếng Việt cũng như những khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh để nâng cao nhận thức liên văn hóa của các em.
Nói một cách tóm tắt, việc dạy tiếng Việt trong môi trường song ngữ ở hải ngoại là một trường hợp đặc biệt. Nó khác hẳn việc dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ. Nó là nỗ lực duy trì và phát triển một thứ tiếng rất dễ bị lãng quên hay biến mất. Nó là một sự kháng cự lại quy luật tự nhiên của xã hội, ở đó, ngôn ngữ chính thống bao giờ cũng có xu hướng nuốt chửng các ngôn ngữ cộng đồng hay di sản. Để làm được điều đó, cần sự hợp tác chặt chẽ của gia đình và trường học. Việc thiếu sự hợp tác ấy sẽ dẫn đến các hệ quả:
Thứ nhất, việc dạy tiếng Việt sẽ trở thành cực kỳ khó khăn nếu các em chưa được học tiếng Việt từ gia đình, và nếu, sau khi rời khỏi lớp, các em không được thực hành trong gia đình, nghĩa là, nếu không có sự hợp tác từ phía phụ huynh.
Thứ hai, việc dạy tiếng Việt cũng sẽ trở thành kém hiệu quả hơn hẳn nếu nội dung học tập trong lớp không phải là một sự tiếp tục và phát triển những gì các em đã, đang và sẽ học trong gia đình. (Hết)

***
Tài liệu tham khảo chính:
Barnara Zurer Pearson (2008), Raising a Bilingual Child, New York: Living Language.
D. Kimbrough Oller & Rebecca E. Eilers (2002), Language and Literacy in Bilingual Children, Sydney: Multilingual Matters.
George Saunders (1988), Bilingual Children, From Birth to Teens, Sydney: Multilingual Matters.
Jean-Marc Dewaele, Alex Housen & Li Wei (biên tập) (2003), Bilingualism: Beyond Basic Principles, Sydney: Multilingual Matters.
Jeanette Altarriba & Roberto R. Heredia (biên tập) (2008), An Introduction to Bilingualism: Principles and Processes, New York: Lawrence Erlbaum Associations.
Mark Leikin (2012), Current Issues in Bilingualism, Springer: Dordrecht.
Michael Clyne (2003), Dynamics of Language Contact, Cambridge: Cambridge University Press.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Hiển thị bình luận

XS
SM
MD
LG