Đường dẫn truy cập

Trong khoảng hơn một tháng trở lại đây, báo chí thế giới đặc biệt chú ý nhiều đến Việt Nam, từ Business Week, the Economist, Bloomberg, Wall Street Journal, New York Times, đến Asia Sentinel, the Diplomat. Mật độ các bài viết trên báo chí nước ngoài về Việt Nam ngày càng dày đặc kể từ vụ ông Nguyễn Đức Kiên (“bầu” Kiên) bị bắt hồi tháng 8 vừa qua.

Trong một động thái có thể nói là chưa từng có, báo New York Times có liên tiếp nhiều bài viết về Việt Nam và gọi tình trạng kinh tế của Việt Nam hiện nay là “crony capitalism” (chủ nghĩa tư bản thân hữu). Trong số ra ngày 22 tháng 8 (In Vietnam, Growing Fears of an Economic Meltdown), NYT viết rằng: “nếu như cuộc khủng hoảng năm 1997 (ở Đông Á) vẫn bị cho là do “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì các vấn đề của Việt Nam hiện nay có thể được mô tả là chủ nghĩa tư bản thân hữu với phong vị riêng của cộng sản”. Phong vị riêng, theo NYT là “các công ty của nhà nước đông nghẹt những bạn bè và đồng minh của các quan chức trong hệ thống quyền lực của Đảng Cộng Sản”.

Trong số ra ngày 1 tháng 9 (In Vietnam, Message of Equality Is Challenged by Widening Wealth Gap), NYT lại viết: “sự giận dữ tập trung chủ yếu vào phiên bản Việt Nam của chủ nghĩa tư bản thân hữu – mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại gia và các quan chức cao cấp của Đảng Cộng Sản. Sự phê phán/lên án này được dịp bùng lên vì các tin tức liên quan đến việc lợi dụng (quyền hạn) đã bị lộ ra từ các công ty của nhà nước - vốn vẫn là phần trung tâm của nền kinh tế, nhưng gần đây đã bị trục chặc lớn, và góp phần tạo ra tình trạng khủng hoảng tài chính rất trầm trọng hiện nay”.

Có lẽ trong lịch sử Việt Nam hiện đại, chưa một lần nào Việt Nam được mô tả là một nền kinh tế theo kiểu “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Bản chất của khái niệm này là gì, sự “kết án” của NYT nghiêm trọng đến thế nào, và vai trò của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” trong cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông và Đông Nam Á hồi năm 1997 như thế nào?...sẽ là chủ đề của bài viết nhiều kỳ này.

Chủ nghĩa tư bản thân hữu

“Chủ nghĩa tư bản thân hữu” là một khái niệm không được định nghĩa với nội hàm rõ ràng. Nó thường được dùng để chỉ các nền kinh tế mà trong đó hệ thống doanh nghiệp có những mối quan hệ mang tính cấu kết với các quan chức trong hệ thống nhà nước, qua đó tạo thành các mạng lưới “thân hữu” (những người bạn thân) giữa hai giới doanh nhân và quan chức. Theo một nghiên cứu của Surajit Mazumdar (CRONY CAPITALISM: Caricature or Category?) Mối quan hệ “thân hữu” này dẫn tới hai hệ luỵ hiển nhiên:

Thứ nhất, nó ảnh hưởng tới sự phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả của nền kinh tế. Các quan chức cấu kết với các doanh nhân sẽ đẻ ra các chính sách và quyết định chính trị liên quan đến việc phân bổ nguồn lực có lợi cho các thân hữu của họ trong giới làm ăn. Thí dụ, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, trợ giá, lãi suất, kích cầu… có lợi cho một số doanh nghiệp nhất định. Sự ban phát các lợi ích này không phải miễn phí mà nó là kết quả của quan hệ “thân hữu” dựa trên lợi ích. Quan chức của chính phủ thì tìm kiếm lợi ích (rent seeking) dưới các dạng như tiền hối lộ, các đóng góp vào các quỹ tranh cử...còn giới doanh nghiệp thì tìm cách kiếm lợi bất chính dưới bóng của các thân hữu trong bộ máy chính quyền.

Thứ hai, các quan hệ “thân hữu” giữa quan chức và doanh nhân sẽ phá hỏng chức năng của nhà nước với tư cách là cơ quan giám sát và điều tiết các hoạt động của thị trường, thí dụ như việc giám sát các tiêu chuẩn liên quan đến việc đóng thuế, tuân thủ các tiêu chuẩn về môi trường, các quy định về sử dụng và đối xử với người lao động… Lý do là các “thân hữu” trong hệ thống chính quyền bị các “thân hữu” trong hệ thống doanh nghiệp vô hiệu hoá, há miệng mắc quai. Việc này đến lượt nó lại tạo ra một môi trường kinh doanh không dựa trên pháp luật, hoặc nói đúng hơn, pháp luật chỉ áp dụng cho những doanh nghiệp nhỏ hoặc “cô thế” không có các thân hữu trong hệ thống quyền lực nhà nước hỗ trợ.

Mức độ nghiêm trọng của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” như thế nào thì còn tuỳ thuộc vào mức độ phổ biến của các quan hệ dạng này, sực chằng chịt của hệ thống mạng lưới lợi ích được đan lên giữa hai giới doanh nhân và quan chức, cũng như hình thái thể chế chính trị của chế độ, các yếu tố thuộc về nền tảng văn hoá và vai trò cũng như sự trưởng thành của hệ thống luật pháp. Nhìn dưới mức độ chung nhất, thì các quan hệ theo kiểu “thân hữu” này ở đâu cũng có – trong hệ thống các nền kinh tế thị trường hiện đại hiện nay.

Thí dụ như ở Mỹ, trong cuộc tranh cử đang diễn ra giữa ứng cử viên đảng cộng hoà Mitt Romney và đương kim tổng thống thuộc đảng dân chủ Barack Obama, ông Romney cũng tấn công ông Obama bằng khái niệm chủ nghĩa tư bản thân hữu. Hồi giữa tháng trước, khi phát biểu trước cử tri, ông Romney cho rằng: “tôi lấy làm xấu hổ để nói rằng chúng ta đang nhìn thấy tổng thống của chúng ta đưa tiền cho các doanh nghiệp của những người đóng góp tài chính cho chiến dịch tranh cử của tổng thống, khi ông ấy đưa tiền ra, 500 triệu USD dưới dạng cho vay, cho một công ty tên là Fisker là công ty sản xuất xe ô tô điện cao cấp, và giờ công ty này đang sản xuất loại xe đó ở Phần Lan. Làm như thế là rất sai, và phải dừng lại. Cái kiểu chủ nghĩa tư bản thân hữu đó không tạo ra công ăn việc làm và không tạo ra công ăn việc làm ở đất nước này.”

Chính thức hơn, một số thông kê, thí dụ như của Rasmussen Reports hồi đầu năm 2012 cho thấy tới 39% người Mỹ cho rằng nước Mỹ đang là một nền kinh tế theo kiểu “chủ nghĩa tư bản thân hữu. Theo một điều tra khác, cũng của Rasmussen Reports, 66% người Mỹ được hỏi cho rằng các quan hệ thân hữu đang chi phối các hợp đồng của chính phủ Mỹ với khối doanh nghiệp tư nhân; trong khi đó với tỉ lệ 3-1, các cử chi cho rằng các chính khách được bầu ra của Mỹ thường xuyên giúp đỡ các công ty mà họ có quan hệ gần gũi; và, với tỷ lệ 70% người Mỹ cho rằng chính quyền Mỹ và các đại công ty đi đêm với nhau và chống lại lợi ích của số đông người dân Mỹ. (còn tiếp)

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Trần Vinh Dự

    Trần Vinh Dự chuyên nghiên cứu, tư vấn, và viết về các vấn đề kinh tế của Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài lĩnh vực sở trường này, ông cũng thường xuyên viết về các vấn đề quan hệ quốc tế liên quan tới Á Châu. Trần Vinh Dự tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học tổng hợp Texas ở Austin, làm chuyên gia tư vấn kinh tế cho tập đoàn ERS Group Inc., đồng sáng lập và là cố vấn cho Quỹ nghiên cứu Biển Đông.

Hiển thị bình luận

XS
SM
MD
LG