Đường dẫn truy cập

Bí mật nơi cây dầu đôi (kỳ 2)

  • Ðoàn Văn

Bí mật nơi cây dầu đôi (kỳ 2)

Bí mật nơi cây dầu đôi (kỳ 2)

Kỳ 2

Lần thứ nhất, một tai nạn khủng khiếp khi hai nhịp cầu nối liền với nhau bị sụp xuống, dẫn đến cảnh người chết, kẻ bị thương la liệt, máu chảy lênh láng khi một nhịp cầu đổ nghiêng, đè xuống hàng trăm người đang thi công. Tiếng rên la thảm khốc. Và từ hôm đó, đêm nào nằm ngủ, y cũng mơ thấy những tiếng kêu cứu, hãi hùng. Có khi là những tiếng hú, từ cõi xa xăm vọng về.

Lần thứ hai, khi cầu sắp hoàn tất, thì mùa nước lũ kéo về, và như chưa từng có trong lịch sử, cơn lũ cuốn phăng những chân cầu đang xây dựng, và cả những gì mà người Pháp đã xây dựng trong vùng. Thế là đoàn của y phải làm lại hoàn toàn, từ đồ án thiết kế, đến chi tiết thời gian xây dựng.

Lần thứ ba, khi cây cầu hoàn tất, lẽ ra y được về Pháp nghỉ hè, nhưng cơn bệnh bất ngờ đã quật ngã y. Một căn bệnh quái lạ: ban ngày nóng bứt nhưng y run lên cầm cập; ngược lại, ban đêm khí lạnh từ núi rừng lan tỏa, vậy mà y lại tháo mồ hôi hột. Bác sĩ không tìm ra căn bệnh. Y nằm liệt rất lâu, sức sống xuống đến mức cùng kiệt, chỉ còn làn da bọc xương như những kẻ nhịn đói hằng tháng trời. Đến nỗi, về sau, có một người thổ dân, một bộ hạ của y tỏ lòng thương hại, mách nước rằng: y phải cúng giải thiêng, mới thoát khỏi những tai ương, vì y và những người khác đã san phá những phần mộ và nơi chôn cất của những thổ dân. Những oan hồn đó đã vây lấy và quật y gục ngã. Khi đang trong cơn bệnh, chỉ nằm chờ chết, y đành nghe theo. Và lạ thật, sau khi cúng kính theo quy tắc của thổ dân, người thầy cúng mà bộ hạ của y kiếm về từ một vùng khác, đã cho y uống một thứ nước xanh lè, đậm đặc được chiết ra từ những loài cây gì đó. Ông ta dặn y uống mỗi ngày 4 lần, mỗi lần gần 1/3 lít. Chỉ hai ngày sau, y dần dần khỏe lại. Y uống tiếp thứ nước ấy đến ngày thứ bảy, thì bệnh tình như chấm dứt hẳn.

Từ đó, y trở thành một con người còn lòng tin vào đất trời, vào những oan hồn đã khuất. Đó là lý do, y ngại ngùng phá cây dầu đôi. Mà thực ra, mấy tuần trước y đã có ý định phá cây dầu đôi này. Y đã dùng một mũi khoan lớn, khoan xuyên thân cây, từ bên này qua bên kia, tạo nên một lỗ hổng, xuyên suốt. Đêm ấy, y nằm mơ. Trong giấc mơ, y thấy chân tay mình như bị cột tại gốc cây dầu đôi. Từng giọt mủ cây chảy ra, chạy dài từ mắt y trở xuống, làm y không mở mắt được. Và chung quanh y, những bóng ma đang nhảy múa, la hét liên hồi. Khi bật dậy, cả người vã đầy mồ hôi, trong một tâm thần hỗn loạn.

Mấy ngày nay, y nằm thiêm thiếp như chờ chết. Cơn bệnh cũ từ Nam Phi tái phát. Y run cầm cập ngay cả trong những ngày nắng quái, trong lúc miệng khô khốc, nứt nẻ. Mỗi đêm, y đều nằm thấy những cơn mộng dữ. Y cho người gọi ông Cố tôi tới, kể cho ông nghe những giấc mơ hãi hùng. Y bảo, trong giấc mơ, y thấy một người trung niên Á châu, râu quai nón, dáng dấp bặm trợn, nơi thắt lưng, đeo một đoản kiếm. Ông ta bảo rằng: đây không phải là nơi của y. Rồi bỗng nhiên, ông ta nắm chui kiếm đưa về phía trước. Y sợ hãi, lùi về phía sau, tay chụp khẩu súng ngắn. Nhưng tất cả đã muộn màng. Lưỡi kiếm quét ngang mặt, nhưng y không cảm thấy đau đớn gì, mà nghe một mùi tanh lợm giọng quét ra từ đoản kiếm, và máu từ đầu kiếm tuôn trào, quét vào mặt y. Chẳng bị thương tích gì, y chỉ bị ngộp thở khi làn máu phun mạnh từ đoản kiếm quật vào mặt. Y cuối xuống, van lạy. Người trung niên đó bỏ đi, không thèm quay lại. Giấc mơ ấy cứ hiện ra hằng đêm. Thấy y kiệt quệ một cách đáng thương, ông Cố tôi gợi ý, tìm một thầy cúng trong vùng, để cúng cho y. Y đồng ý. Ông tôi kiếm một thầy pháp nổi tiếng. Sau khi nghe kể hết sự tình. Ông thầy pháp ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Một hồi sau, ông lên tiếng.

"Tôi không muốn chữa bệnh cho những kẻ xâm lược. Tuy nhiên, theo ông nói, hắn không phải là một con người tàn ác. Tôi sẽ cố gắng. Nhưng tôi biết chắc một điều: hắn còn giữ rất nhiều thứ thu vét được. Hắn phải trả lại hết. Không phải trả cho tôi, cho ông, mà là gởi trả lại cho vùng đất này hay một nơi nào đó, mà hắn muốn. Ngày nào hắn chưa trả, nợ đó vẫn còn đè nặng trên vai, những oan hồn u uẩn vẫn còn bám víu theo. Hắn sẽ từ từ kiệt quệ mà chết. Nếu muốn sống, điều kiện duy nhất là phải thành thật, trả lại tất cả, và ra khỏi nới này với hai bàn tay trắng.Tôi sẽ trấn một lá bùa. Hắn phải đem lá bùa này cất cùng chung với tài sản đang có. Cất ở đâu, tùy hắn. Và tài sản này, mãi mãi không bao giờ hắn nên nghĩ tới. Ông về nói lại như vậy, khi nào hắn đồng ý thì hãy tìm tới tôi."

Ông Cố tôi thuật lại lời ông thầy pháp, trong khi viên kỹ sư nằm rên hừ hự, như một kẻ sắp rời khỏi trần gian. Nhưng đôi mắt chợt sáng lên, khi nghe ông Cố tôi có nhắc đến những tài sản mà y thu vét từ bao lâu nay. Nghe xong, y gục xuống thiểu não. Y gật đầu, đồng ý.

Chiều hôm đó, ông Cố tôi lại đi tìm ông thầy pháp và báo tin. Ông ta bảo ông tôi chờ. Gần nửa giờ sau, ông đem ra một cái gói nhỏ, màu vàng. Ông bảo, trong đó có lá bùa. Không ai được phép mở nó ra. Nếu không, người mở ra sẽ mang nhiều bệnh tật và tai ương, không chỉ một mình mà cả một gia tộc của người đó cũng phải gánh chịu. Ông dặn ông Cố tôi về giao cho viên kỹ sư người Pháp, và cho y biết như vậy. Trưa hôm sau, viên kỹ sư Pháp lại kêu ông Cố tôi lên, miệng thì thào: Tôi đã bỏ tất cả tài sản cùng lá bùa vào trong cái ống này. Y đưa cái ống lên và lắc lắc. Ông Cố tôi nghe như có cái gì chuyển động trong cái ống. Tiếng phát ra là từ những vật rắn chắc va chạm với cái ống đồng. Cái ống tròn, dạng như cái ống thổi lửa bằng tre của người nhà quê, dài khoảng hai gang tay, đường kính khoảng hơn 4 xăng ti mét. Y nói rằng: tất cả những tài sản mà y kiếm được tại Châu Phi và Đông Dương này, đều nằm trong đó. Tuy nhiên, bây giờ, chúng không còn ý nghĩa gì cả. Y phải sống, phải về lại Pháp. Y không muốn cuộc đời tàn tạ, chôn vùi nơi xứ sở khỉ ho cò gáy này. Ông Cố tôi chỉ lặng im. Một hồi sau, y cho biết: đó chỉ là những viên đá nhỏ, có màu. Một số có màu trăng trắng, số lớn còn lại có màu xanh lục và hồng tía. Bên trong, kèm theo lá bùa của ông thầy pháp, y còn viết những dòng chữ trên một trang giấy vàng xỉn, bỏ chung với số tài sản và lá bùa vào trong cái ống đồng. Tối hôm đó, người thầy pháp đến làm phép và cúng cho y.

Sáng sớm hôm sau, y cho gọi ông Cố tôi lên, và bảo cùng đi ra chỗ cây dầu đôi. Y đứng lên, tự mình di chuyển, dù rất nặng nhọc. Rồi đích thân Y thắp hương, lầm bầm khấn nguyện. Trong lúc nhìn y, ông Cố tôi chợt nhìn thân cây dầu đôi đang rỉ mủ. Chỗ thủng mà y khoan hôm trước đã biến mất. Một phần vỏ cây, to bằng bàn tay, bịt lại bên ngoài thân, có dấu đinh đóng chặt. Một hàng mủ còn mới tinh nguyên đang rỉ xuống, như một con rắn, cái đuôi quấn vào bộng cây, cái đầu chúi mạnh xuống dưới. Y phóng tia nhìn rất sắc sang ông Cố tôi, rồi nhìn chỗ mủ đang rỉ ra, im lặng. Bỗng nhiên, y quỳ xuống vái mọp, hai tay đặt hẳn lên mặt đất. Y xá ba xá, thành khẩn như một người mộ đạo chân chính. Thật lạ lùng, ông Cố tôi nhìn thấy chỗ mủ đang rỉ ra, chợt ngưng ngang và nó rút trở lại như con rắn chui tuột vào chỗ có dấu đinh đóng chặt. Ông dụi mắt, như không tin vào những gì mình vừa nhìn thấy. Cái lỗ mà y khoan hôm nào, lành lặn trở lại thành một đóm tròn như cổ chai, sần sì như một cục u trên thân cây dầu đôi!

Không bao lâu sau, viên kỹ sư Pháp khỏi bệnh, y trở về Pháp. Vài ngày sau, một viên sĩ quan người Pháp khác thay thế, đường xá hoàn thành xuống Nha Trang, qua khỏi đèo Rù Rì, chạy dài ra đến đèo Rọ Tượng ở Ninh Hòa, thì Cố tôi xin nghỉ việc.

Tôi về, từ trên mây. Về một cách vội vã, ở lại chỉ trong vòng một tuần. Sau khi nghe Ba tôi giao lại gia phả của dòng họ, tôi đã đọc sơ qua. Tôi đã đến, đã quan sát cây dầu đôi. Thấy có một cái bướu lớn, chỗ cái bướu cao hơn đầu người, chứ không phải chỉ khoảng hơn một thước như Cố tôi thuật lại. Không biết có phải cái bướu hiện giờ và cái bướu mà Cố tôi nhắc đến, là một? Tôi đã sờ lên vết sẹo của cây và thầm nhủ rằng: Cây đã mang những vết sẹo đời để cho người sống sót. Tôi chụp vài tấm hình. Tôi lấy cận ảnh cái bướu, như một chút kỷ niệm. Rồi vòng tay ra, ôm lấy thân cây, như ôm một thân tình, đã xa cách rất lâu, bây giờ mới gặp lại. Tôi áp tai mình vào lớp da sần sùi, nghe như có tiếng rộn ràng di chuyển của nhựa sống. Rồi từ giã cây dầu đôi như từ giã một người thân thiết mà biết chắc rằng: phải lâu, rất lâu tôi mới cơ hội trở về.

Lạ lắm, khi tôi xuống Nha Trang rửa những tấm hình đã chụp. Không thấy cái bướu đâu cả. Hình tôi chụp cận ảnh cái bướu, bây giờ lại thấy lớp vỏ lành lặn và tương đối bằng phẳng chứ không gồ ghề, nhô cao. Tôi quyết giữ điều lạ này cho riêng mình. Tuy nhiên, gần đây, dù ở xa nửa vòng trái đất, tôi có nghe tin người ta đang bàn thảo, bứng cây dầu đôi này trồng lại một nơi khác, có thể gần thành Diên Khánh cũ, để "giải phóng" mặt bằng. Tôi nghe một niềm đau dấy lên từ phế phủ. Tôi chỉ mới biết cây dầu đôi sau chuyến trở về ấy, nhưng lại thấy cây như một người thân quen, với thân vươn cao, tán lá bung ra như một chở che, rộng lượng. Với tôi, cây dầu đôi đã chứng kiến nhiều xáo trộn của cuộc đời. Cây đứng sừng sững như một chứng nhân của đất trời Diên Khánh, đã chứng, đã nghe bao cảnh đổi dời. Cây cũng đã buồn bã dõi theo bao trận chiến ác liệt giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh. Cây cũng lắng nghe tiếng reo hò vang dậy của nghĩa quân, dưới sự thống lãnh của Bình Tây đại tướng Trịnh Phong, dùng thành Diên Khánh làm Tổng hành dinh để chống Pháp trong phong trào Cần Vương, do vua Hàm Nghi khởi xướng. Cây cũng đã mưng mủ, lắng nghe tiếng lòng của bao người dân nổi trôi theo vận nước.

Tôi tự hỏi: Có cần không, cho chút mặt bằng, mà phế bỏ một chứng nhân im lặng của lịch sử?

Đoàn Nhã Văn
5/2011

XS
SM
MD
LG