Đường dẫn truy cập

Những khó khăn trong việc xin thị thực nhập cảnh đe dọa đến vị thế nền giáo dục cao đẳng của Mỹ. - 2004-03-15


Các số liệu thống kê và những cuộc điều trần ở quốc hội Mỹ hồi gần đây đã xác nhận sự xuất hiện của một xu thế đáng lo ngại mà các giới chức đại học đã cảnh báo trong gần 2 năm nay những biện pháp mới về an ninh mà giới hữu trách Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 đang khiến cho số sinh viên ngoại quốc nộp đơn xin theo học ở các đại học ở Mỹ sút giảm đáng kể.

Trong năm 2003, số sinh viên quốc tế tại các trường đại học ở Mỹ đã gia tăng với tỉ lệ 0,6%, là tỉ lệ thấp nhất trong vòng gần một thập niên, sau khi đã tăng gần 6,5% mỗi năm trong hai năm trước đó. Tại ít nhất phân nửa các đại học ở Mỹ, số nghiên cứu sinh nộp đơn xin theo học đã bắt đầu sút giảm từ mùa thu năm ngoái; và số sinh viên nước ngoài nộp đơn xin theo học các chương trình bậc cao học và tiến sĩ cho niên khóa 2004-2005 đã giảm thiểu với tỉ lệ bình quân 32%.

Thêm vào đó, tổ chức ở Mỹ chuyên đảm trách việc thực hiện các cuộc khảo hạch về khả năng học tập, có tên là Dịch Vụ Trắc Nghiệm Giáo Dục (Educational Testing Service) cho biết số sinh viên quốc tế nộp đơn xin tham gia kỳ thi GRE dành cho nghiên cứu sinh đã giảm 1/3 trong năm nay. Các số liệu thống kê cũng cho thấy tình trạng sút giảm mạnh trong số sinh viên đến từ Trung quốc và Ấn dộ, là hai nước lâu nay vẫn chiếm gần 1/3 tổng số nghiên cứu sinh ở các đại học Hoa kỳ.

Nhiều chuyên gia giáo dục ở Mỹ nói rằng sự giảm thiểu, mà họ cho là phát xuất từ những khó khăn trong việc xin thị thực nhập cảnh, hiện đang đe dọa đến vị thế của nền giáo dục cao đẳng của Mỹ và tác động đến nền kinh tế vốn được hưởng lợi khoảng 12 tỉ đô la mỗi năm từ số học phí và sinh hoạt phí của các du học sinh.

Theo các chuyên gia, sự sút giảm số nghiên cứu sinh nước ngoài sẽ tác động tiêu cực đến công tác nghiên cứu về bệnh ung thư và bệnh Aids, và phương hại đến sự phát triển trong các ngành kỹ sư và công nghệ - lý do là vì công tác nghiên cứu mà những sinh viên đó thực hiện ở các cơ sở giáo dục ở Mỹ là một bộ phận không thể tách rời của sự tiến bộ của Hoa kỳ trong lãnh vực y khoa và khoa học. Tờ Detroit News, số ra ngày 2 tháng 3 trích lời ông John Godfrey, Trợ lý khoa trưởng đặc trách giáo dục quốc tế của Đại học Michigan, nói rằng đối với một đại học nghiên cứu như Đại học Michigan, các sinh viên nước ngoài có một vai trò cực kỳ quan trọng. Tường thuật của tạp chí Giáo Dục Cao Đẳng (The Chronicle of Higher Education), số ra ngày 12 tháng 3, trích lời ông Victor Johnson, Phó giám đốc chính sách công cộng của Hiệp Hội Các Nhà Giáo Dục Quốc Tế (Association of International Educators), nói rằng: sinh viên các nước đang bỏ phiếu bằng đôi chân của họ, và nhiều người đã quyết định đi du học ở những nước có những chính sách di trú ít hạn chế hơn. Nhận xét này đã được xác nhận qua số liệu thống kê mới được phổ biến ở Australia. Nhật báo The Star ở Malaysia, số ra ngày 14 tháng 3, trích thuật các số liệu do Mạng Lưới Giáo Dục Quốc Tế của chính phủ Australia công bố hôm thứ 3 vừa qua, cho biết: số sinh viên quốc tế ở Australia đã tăng 17% trong niên khóa 2003-2004.

Theo tường thuật của tạp chí Giáo Dục Cao Đẳng, nhiều thành viên quốc hội Mỹ đã chú ý đến sự bất mãn của các sinh viên quốc tế và giới học thuật. Một số nhà lập pháp đã khiển trách các giới chức bộ An Ninh Nội Địa hồi tháng trước sau khi họ đọc một bản phúc trình của Tổng Vụ Kế Toán Quốc Hội (General Accounting Office), trong đó các nhà điều tra của quốc hội chỉ trích về sự trễ nãi mà nhiều khoa học gia nước ngoài đã gặp phải khi họ xin thị thực nhập cảnh nước Mỹ. Các giới chức quản trị đại học nói rằng thời hạn 8 tuần từ khi được thu nhận cho đến ngày thực sự nhập học lẽ ra là đủ để sinh viên nước ngoài nhận được thị thực nhập cảnh. Tuy nhiên, phúc trình của Tổng Vụ Kế Toán Quốc Hội cho biết thời hạn chờ đợi thị thực hiện nay kéo dài từ 9 tuần cho đến 6 tháng. Chủ tịch Ủy ban Khoa học Hạ viện, dân biểu Sherwood Boehlert, nói rằng: hệ thống cấp phát thị thực du học hiện nay đang tạo ra những sự trễ nãi không cần thiết và những vấn đề này không ích lợi gì cho an ninh của nước Mỹ. Nhận định này đã có sự tán đồng của nhiều nhà giáo dục, trong đó có ông Kevin Casey, Giám đốc Phòng Quan hệ Liên bang và Tiểu bang của Đại học Harvard. Ông Casey nói rằng: nếu không được giải quyết thỏa đáng, vấn đề hiện nay chẳng những sẽ làm sút giảm vị thế của Hoa kỳ trên thế giới mà còn phương hại đến nền an ninh nội địa của nước Mỹ.

Cũng theo tường thuật của tạp chí Giáo Dục Cao Đẳng, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã bắt đầu áp dụng những biện pháp nhằm giảm thiểu sự trễ nãi trong việc cấp phát thị thực mà phúc trình của Tổng Vụ Kế Toán Quốc Hội đề nghị, trong đó có việc nâng cấp hệ thống Mantis mà các phòng lãnh sự dùng để chuyển đạt những yêu cầu điều tra cho Cơ Quan Điều Tra Liên Bang (FBI). Hệ thống Mantis được bắt đầu áp dụng năm 1998 để thực hiện những cuộc điều tra về các sinh viên và học giả nước ngoài có ý định theo học ở các đại học Mỹ trong khoảng 200 bộ môn khoa học nằm trong Danh Sách Cảnh Báo Kỹ Thuật (Technology Alert List). Đây là danh sách những kiến thức chuyên môn có thể tạo ra một mối đe dọa cho an ninh nước Mỹ nếu được chuyển giao trái phép cho một nước khác.

Theo bà Janice Jacobs, Trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách dịch vụ cấp phát thị thực, thì cảm nghĩ cho rằng việc xin thị thực du học đã trở nên khó khăn hơn là một cảm nghĩ sai lầm. Bà nói rằng: trong thời gian vừa qua, tỉ lệ chấp thuận đơn xin thị thực du học vẫn không thay đổi mặc dù tổng số đơn xin thị thực các loại đã giảm mạnh.

XS
SM
MD
LG