Đường dẫn truy cập

Nguyên Khai: Hội hoạ như cuộc hành trình miên viễn


Trịnh Y Thư tên thật là Trịnh Ngọc Minh, sinh năm 1952, tại Hà Nội. Viết văn, làm thơ, dịch. Nguyên chủ bút tạp chí Văn Học (California). Tác phẩm dịch đã xuất bản: Đời nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of Being), tiểu thuyết của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera, tạp chí Văn Học xuất bản, 2002; Căn phòng riêng (A Room of One’s Own), lí luận văn học của nhà văn nữ Virginia Woolf, Tri Thức xuất bản, 2009. Hiện định cư tại bang California, Hoa Kì.

Màu sắc là dầu được thắp lên bởi trái tim.
—Nguyên Khai


Vẫn tiếng cười sảng khoái vang lên sau mỗi câu chuyện làm quà được kể bằng giọng nói đầy dí dỏm, vẫn ánh mắt thi thoảng ngời lên nét tinh nhanh của trẻ thơ nghịch ngợm, vẫn dáng đi thoăn thoắt, nhanh nhẹn của người đàn ông năng động. Nhưng trên khuôn mặt đó, gầy gầy, xương xương, những nét nhăn lõm sâu của năm tháng và mái tóc hoa râm, cho thấy ở tuổi 70 ông không còn là người trẻ tuổi nữa. Có lẽ ông đã chứng kiến không biết bao nhiêu “lớp sóng lớp phế hưng” và thấm nhập không ít những trải nghiệm đắng cay, ngọt bùi của kiếp nhân sinh. Có lẽ ông đã thấu hiểu sống là gì và, trên hết, nghệ thuật cũng như cái đẹp là gì. Bởi ông là một hoạ sĩ.

Nhưng hình như có điều gì khiến ông vẫn chưa hài lòng với chính ông?

Ở tuổi mà phần đông nghệ sĩ đã yên phận đi tìm sự an nhàn lười lĩnh, lấy thủ pháp làm nghệ thuật, không muốn động não thêm làm gì, hoặc tự mãn với chính mình sau khi đã tìm ra dấu ấn hay chữ kí riêng nào đó, tác phẩm sau chỉ là biến tấu không hơn không kém của tác phẩm trước, thì hoạ sĩ Nguyên Khai vẫn đơn độc miệt mài trong xưởng vẽ với chiếc cọ và bảng màu trên tay, ánh mắt tập trung vào tấm bố trắng toát đứng lạnh lùng trên giá vẽ và một lần nữa bắt đầu định hình, lục lọi từng ngõ ngách tâm tư, chắt lọc từng tế bào trí tuệ để tìm kiếm một chân trời mới cho nghệ thuật của riêng mình. Mỗi lần như vậy có lẽ là một lần hoá thân. Và ông đã hơn một lần hoá thân trong suốt quá trình sáng tạo của ông. Sự hoá thân ấy không dễ dàng và êm ái chút nào, nó trăm đắng nghìn cay. Nhưng đấy là nghệ thuật. Và, bởi nghệ thuật là cái xác chết vô hồn nếu sự sáng tạo ngưng đọng trong vũng lầy tù hãm nên người nghệ sĩ, cho đến hơi thở cuối cùng, vẫn phải quên đi nỗi đau để tiếp tục cất bước trong cuộc hành trình vạch ra từ lúc sơ khai của buổi ban đầu, một cuộc hành trình miên viễn, không bao giờ tới đích.

Tôi đến thăm xưởng vẽ của hoạ sĩ Nguyên Khai tại tư gia của ông vào một buổi chiều thu có những tia nắng vàng đẹp sau cơn lạnh đầu mùa bất ngờ ập đến miền nam California và được ông cho thưởng thức trước loạt tranh vừa hoàn tất của ông. Dĩ nhiên, tôi được nhìn ngắm một loạt những bức tranh thật khác với những bức ông vẽ cách đây năm mười năm. Ngoài những nét vẩy đỏ vàng quen thuộc—con dấu khắc hoạ của ông—và dăm ba mô-típ hiện thực, tôi bắt gặp một thế giới Nguyên Khai mới. U tối, huyền ảo hơn, nhưng cũng sâu đậm, trầm lắng hơn. Không còn những màu sắc rực rỡ, những nhịp tiết mềm mại, những mô-típ thiếu nữ mượt mà, óng ả, nhưng nếu nhìn kĩ thêm chút nữa thì đấy vẫn là Nguyên Khai bởi chất thơ vẫn bàng bạc, không hề tan biến đi đâu, trong nghệ thuật của ông. Đối với ông, vẽ là làm thơ, làm thơ bằng
sắc màu và hình tượng.

“Âm nhạc xanh” là nhan đề bức đầu tiên ông lôi ra cho tôi xem. Gam màu xanh thẫm chế ngự bức tranh. Nó làm nền cho bức tranh thì đúng hơn. Màu xanh ở đây gợi mở nỗi buồn vô hạn. Nó là cái nhìn hôn ám, hoang muội trước nhân sinh. Và trên cái nền xanh thẫm ấy, như một không gian hun hút sâu thẳm hay mặt đại dương bao la u tối, những nốt nhạc trắng bay lờ lững, như những cánh buồm lặng lẽ trôi, như những sợi bông gòn mong manh bay lả tả, như những đoá hoa tuyết phất phới la đà. Vô định. Dật dờ. Nào biết về đâu. Nào biết đâu là thuỷ đâu là chung. Như cái hư vô của trời đất. Như cái bóng của thời gian. Tất cả như tan biến trong màn sương của sự hoang vắng vô hạn.

Nhìn ngắm bức tranh, tâm hồn bạn chẳng thể nào cưỡng được tiếng nhạc đang âm thầm trổi lên. Nhưng không phải bất kì khúc nhạc nào mà phải là một khúc chậm buồn, có thật nhiều nốt lặng, trầm lắng nhưng không lê thê, không da diết. Nó như tiếng gõ đều đặn và chắc nịch của định mệnh, như tiếng thở dài u ám của Ôn Như, “Trăm năm nào có gì đâu, Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì,” để sau cùng tiếng nhạc nhường chỗ cho sự lặng im toả chiết. Chắc chắn không thể nào là Beethoven, lại càng không phải Mozart. Chỉ có thể là Bach. Johann Sebastian Bach. Phải đấy, nhưng cũng không phải bất kì khúc nào của Bach mà phải là khúc Sarabande cổ kính trong tổ khúc cung Sol thứ Bach viết cho đàn lute. Cũng như khúc nhạc, bức tranh là câu hỏi nhân sinh không có câu trả lời. Nhưng ai lại đi tìm kiếm câu trả lời trong một tác phẩm nghệ thuật bao giờ, hoặc nói như Xuân Diệu, “Ai đem phân chất một mùi hương?” Nhất là nghệ thuật ấy lại là nghệ thuật tạo hình, tạo thanh, vốn vô ngôn và đôi khi lối vào duy nhất cảm quan chúng ta có thể len vào là ngả trực giác, con đường cảm thụ bằng linh cảm, thần cảm. Nhưng dù vậy nó vẫn hiển lộ một cảm xúc sâu thẳm, một sức mạnh tiềm tàng, để từ đó chân thiện mĩ được biểu đạt bằng động hình cao đẹp nhất của nghệ thuật sáng tạo.

Bức với nhan đề “Cũng có nhà thờ Đức Bà ở New York” là một tâm cảnh rõ rệt bởi mô-típ ngôi nhà thờ danh tiếng của thành phố Sài Gòn—trơ trọi, ngơ ngác—nằm lạc lõng giữa trùng vây những toà nhà chọc trời New York, như thể nó bị cái quần thể những toà nhà cao ngất ngưởng khổng lồ kia đè bẹp. Tuy thế, màu gạch nâu của ngôi nhà thờ nổi tiếng ấy lại là gam màu chế ngự toàn cảnh bức tranh. Tất cả những toà nhà chọc trời, như những khối thạch anh trong thiên nhiên mọc lên hỗn độn, đều có chung một màu sắc với ngôi nhà thờ. Thoạt nhìn, người xem tranh không thể không nghĩ đây là một giấc mơ và mình là kẻ mộng du đang đi lạc vào thế giới mộng tưởng, nhưng chẳng mấy chốc tiếng gọi từ vô thức bỗng vọng về khiến người xem tranh sực nhớ ra nỗi buồn vẫn nằm sâu trong tiềm thức mình. Nó cho thấy tâm thức lưu vong vẫn hiện hữu, chẳng thể nào biến mất khỏi nét cọ người nghệ sĩ. Nó là nỗi ám ảnh khôn nguôi suốt cả đời người, đến nỗi đi đâu cũng thấy hình ảnh quê hương mình hiện ra. Bạn có thể chê bai thủ pháp nhập chồng hai hình ảnh lên nhau như thế trong hội hoạ là cái gì thô thiển, tầm thường, ai làm chẳng được, nhưng ở bất kì loại thể nghệ thuật nào thủ pháp chỉ là phương tiện, tự thân nó chưa hẳn là nghệ thuật và ở đây hoạ sĩ Nguyên Khai đã khéo léo dùng màu sắc đặc biệt của ngôi nhà thờ—tìm ra được sắc độ chuẩn xác cho mô-típ muốn miêu tả cũng chỉ là thủ pháp, chỉ khi nào thủ pháp cộng hưởng một cách toàn hảo với những ý tưởng tạo hình khác, nghệ thuật mới thật sự ló dạng và thăng hoa—làm gam màu chủ đạo cho bức tranh khiến các hình ảnh và đường nét khác, bên cạnh ngôi nhà thờ, trở nên mờ nhạt, thứ yếu, và chính bởi thế cảm xúc nơi người xem tranh như bừng dậy. Nó là cái hồn quê nằm sâu trong tâm khảm mỗi người khách lữ thứ. Bước chân phiêu lãng dẫu có đưa mình trôi dạt khắp bốn phương trời, cái hồn quê ấy chẳng bao giờ bị phai nhạt, xoá nhoà trong tâm tưởng.

*

Xem tranh xong, hoạ sĩ Nguyên Khai mời tôi vào vườn sau ngồi uống trà, nói chuyện vãn. (Khu vườn sau nhà ông cũng là một tác phẩm nghệ thuật dùng cây cỏ thiên nhiên làm chất liệu không kém phần thú vị.) Nhân thể, tôi hỏi ông vài câu hỏi vu vơ liên quan đến hội hoạ mà tôi ghi nhanh lại dưới đây như một bài phỏng vấn ngắn:

Trịnh Y Thư: Hội hoạ miêu tả điều gì?

Nguyên Khai: Hội hoạ đi từ nội tâm, qua màu sắc và đường nét, miêu tả cái đẹp.

TYT: Thi sĩ “triển lãm” tâm hồn mình, còn hoạ sĩ “triển lãm” cái gì?

NK: Cũng như thi sĩ, hoạ sĩ “triển lãm” tâm hồn mình, nhưng qua màu sắc và đường nét thay vì chữ nghĩa.

TYT: Từ thuở hồng hoang, con người đã đi tìm kiếm “cái đẹp”. Liệu chúng ta nắm bắt được nó không? Hay đó chỉ là cuộc đuổi bắt theo ảo ảnh?

NK: Thời gian trôi mãi, không ngừng, nhưng tâm hồn con người từ thuở hồng hoang đó cho đến bây giờ có lẽ không biến đổi bao nhiêu, vẫn khao khát cái đẹp, bởi thế cuộc đuổi bắt sẽ còn tiếp diễn, nhưng đấy không phải là cuộc đuổi bắt theo ảo ảnh.

TYT: Thức ăn nuôi dưỡng hội hoạ là gì?

NK: Nhận thức về cái đẹp và sự chân thật.

TYT: Tương quan giữa hội hoạ và thực tại là gì?

NK: Hội hoạ không quay lưng lại thực tại, nhưng nó không minh hoạ thực tại. Hội hoạ cho chúng ta cái nhìn khác, cái nhìn phi thực tại, để từ đó những khả thể của chân thiện mĩ được biểu đạt.

TYT: Bên dưới đường nét và màu sắc, bên dưới ngay cả cảm xúc, chúng ta tìm kiếm điều gì trong một hoạ phẩm?

NK: Cái bất khả tư nghì, bởi màu sắc là dầu được thắp lên bởi trái tim.

TYT: Nếu không có hội hoạ đời sống con người sẽ ra sao?

NK: Con người sẽ không biết cái đẹp là gì.

TYT: Xin cám ơn anh Nguyên Khai.

*

“Nghệ thuật là lời nói dối, nhưng chính lời nói dối ấy giúp chúng ta nhận thức ra sự thật.” Pablo Picasso bảo thế. Được những đường nét và màu sắc huyền ảo của hoạ sĩ Nguyên Khai “lừa dối” suốt buổi chiều hôm ấy, tôi tự thấy mình là kẻ may mắn. Tôi cũng cảm nhận ra một điều là cuộc đời này vẫn còn cái đẹp đang nằm ẩn tàng đâu đó, đón chờ chúng ta tìm tòi, khám phá. “Cái đẹp sẽ cứu vãn thế giới.” Hơn một lần tôi nghe người ta bảo thế và tôi vẫn ấp ủ, nuôi nấng niềm hi vọng ấy trong suốt bấy nhiêu năm tháng. [TYT]

XS
SM
MD
LG