Đường dẫn truy cập

Hồ Xuân Hương và tôi trên hoang đảo


Trịnh Y Thư, tên thật là Trịnh Ngọc Minh, sinh năm 1952, tại Hà Nội. Viết văn, làm thơ, dịch. Nguyên chủ bút tạp chí Văn Học (California). Tác phẩm dịch đã xuất bản: Đời nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of Being), tiểu thuyết của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera, tạp chí Văn Học xuất bản, 2002; Căn phòng riêng (A Room of One’s Own), lí luận văn học của nhà văn nữ Virginia Woolf, Tri Thức xuất bản, 2009. Hiện định cư tại bang California, Hoa Kì.

Nếu bị đày ra một hoang đảo và chỉ được phép đem theo một tập thơ duy nhất để đọc trong lúc nhàn rỗi—ở hoang đảo một mình đương nhiên là nhàn rỗi—tôi sẽ không đắn đo cầm theo tập thơ của nữ sĩ Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương.

Tại sao? Bạn có thể hỏi tôi như thế và tôi xin trả lời là, mặc dù thơ của nữ sĩ họ Hồ có thể không trác tuyệt, không “nâng tâm hồn lên” như thơ của nhiều thi sĩ khác nhưng ngồi một mình trên hoang đảo, hết ngày này qua ngày khác, trong vô vọng, chỉ có thơ của bà với phong cách vừa thanh vừa tục, vừa nghiêm túc vừa đùa bỡn, mỗi lần đọc lại đều thấy có cái gì mới mẻ lấp lánh ló dạng từ giữa những câu thơ, giữa những con chữ, mới giúp tôi quên thời gian nặng nề, chậm chạp trôi qua. Bởi tôi sẽ không bao giờ chán đọc thơ bà trong bất kì cảnh huống nào. Bởi thơ của các thi sĩ khác, trác tuyệt hơn đấy, trí tuệ hơn đấy, gợi cảm hơn đấy, nhưng đọc qua một lần đã thấy “ngan ngán”, phải đợi thời gian khá lâu, cả tuần, thậm chí cả tháng trời, đọc lại mới thấy thú vị, mới có thể tiếp tục đọc, và ví bằng như thế chắc tôi sẽ chết vì buồn chán mất thôi.

Đã có không ít giấy mực nói về thơ Hồ Xuân Hương, thậm chí học giả người nước ngoài (như ông John Balaban) cũng đặc biệt chú ý đến bà và dịch thơ bà sang Anh ngữ. Tất cả những gì tôi định ca ngợi “Bà Chúa Thơ Nôm” chỉ là những điều thừa thãi. Ở đây tôi chỉ mượn tên tuổi bà như cái cớ để nói đến sự kiện mà tôi thấy khá độc đáo trong văn học Việt Nam. Đó là, văn học Việt Nam không cần đợi đến thời hiện đại, nói cách khác, trước khi dân tộc va chạm với nền văn hoá phương Tây, đã có những người làm thơ phái nữ kiệt xuất, đã có những vị anh thư được gọi bằng danh hiệu đầy trang trọng: nữ sĩ.

Tuy con số không nhiều nhưng không ai dám phủ nhận thi tài của họ đôi khi vượt trội cả phái nam, và nhờ thế họ lưu lại cho hậu thế nhiều sáng tác thơ ca bất hủ. Từ thời nhà Lê, chúng ta có bà Đoàn Thị Điểm; bước sang triều đại nhà Nguyễn, chúng ta có thêm các bà: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan và hai nhân vật khác ít danh tiếng hơn: Phan Mi Anh và Năng Văn Nữ Sĩ (bà này là chị ruột cụ Nguyễn Công Trứ).

Sống trong một xã hội nắm đầu bởi tập đoàn quan lại hủ nho, khệnh khạng với truyền thống “trọng nam khinh nữ”, xem đó như sự đương nhiên, đàn bà không được đi học mà phải ở nhà, đầu tắt mặt tối với công việc đồng áng hay quay tơ, dệt vải, nuôi con. Nhưng mặc dù thế vẫn có không ít những trường hợp ngoại lệ, vẫn có những phụ nữ chứng tỏ được sự kiên quyết, vượt qua không biết bao nhiêu trở ngại, khó khăn ngặt nghèo để đạt đến ước nguyện sau cùng của mình, trở thành người biết chữ nghĩa, và họ gởi gắm tâm tư mình vào những lời thơ.

Tuy thế điều quan trọng hơn, theo tôi, là sự trân trọng của người dân trong xã hội Việt Nam thời ấy đối với những tác phẩm thơ văn giá trị. Một xã hội phong kiến; ý thức hệ Tống Nho hủ lậu, với những quy luật khắt khe, phi lí vây hãm tâm tư người đàn bà, ăn sâu từ muôn kiếp trước trong nếp nghĩ và lề thói sinh hoạt; sự bất bình đẳng trong điều kiện xã hội; sự thiên lệch trong cung cách đối xử; tất cả những bất công ấy như mạng lưới chiết toả chằng chịt, trì kéo, chèn ép đời sống người đàn bà thời phong kiến tưởng chừng không thế lực, không ý thức hệ nào có thể chặt đứt nổi. Nhưng khi đem thơ phú ra làm đối tượng nghệ thuật, khi thưởng ngoạn và bình phẩm thơ văn một cách nghiêm túc, tính chất phân biệt nam nữ hình như tan biến. Không ai dùng nó để thẩm định và biện biệt giá trị văn học.

Đứng trước toà nhà văn chương, đột nhiên, áo the đen và áo tứ thân nâu bình đẳng như nhau. Một bài thơ hay được truyền tụng trong dân gian mà không cần biết tác giả nó là nam hay nữ. Sự trân trọng này hiển lộ trong bài tựa tập thơ Lưu hương kí của Hồ Xuân Hương do một trong những bằng hữu xướng hoạ thơ văn của bà, người có biệt hiệu là Tốn Phong Thị, viết vào năm 1814. Lời lẽ hết sức trân trọng của bài tựa cho thấy giá trị văn học trong thơ ca nữ sĩ họ Hồ đã được đánh giá rất cao bởi những nhà Nho cùng thời.

Điều ấy không hề tồn tại trong xã hội Tây phương thời quân chủ.

Trong cuốn tiểu luận Căn phòng riêng xuất bản năm 1929, nữ tiểu thuyết gia người Anh Virginia Woolf, bằng tất cả nhiệt tâm của bà, mở ra cho chúng ta thấy bức tranh cực kì bi đát về cảnh huống những văn thi sĩ phái nữ ở châu Âu gặp phải dưới thời phong kiến. Bà bảo, vào thời Shakespeare, người đàn bà của sân khấu kịch nghệ thường bị người đời ví như con chó bông xù làm trò trong gánh xiệc! Họ xuất hiện trên sân khấu chỉ làm trò cười cho khán giả.

Còn thơ văn thì sao? Không ai xem trọng thơ văn phái nữ. Đàn bà có chút thiên tư dùng ngòi bút diễn tả tâm tư mình, ngay tức khắc, sẽ bị dán lên người nhãn hiệu con mụ điên, thậm chí, một mụ phù thuỷ già nua xấu xí sống trong ngôi nhà ma quái nơi bìa rừng bị mọi người ghê tởm, lánh xa! Người đàn bà viết văn, làm thơ là người chịu đựng không những mọi bất công của xã hội chụp lên đầu mà còn chẳng bao giờ có đời sống gia đình bình thường, “bởi lúc nào bà cũng phải sống trong tình trạng căng thẳng thần kinh và tiến thoái lưỡng nan, một tình trạng có thể dẫn đến cái chết”. Hậu quả khó tránh là bà sẽ chết tức tưởi và thân xác bà bị vùi chôn trong nấm mồ vô danh nào đó ngoài đồng nội. “Giả sử bà không chết, nhưng ngay cả thế những gì bà viết cũng sẽ bị bóp méo và biến dạng, kết quả của những trí tưởng tượng lệch lạc và bệnh hoạn.”

Đến giữa thế kỉ XIX, tình trạng này khá hơn nhưng phụ nữ viết văn, làm thơ vẫn bị người đời bỉ báng không thương tiếc. Họ phải kí bút danh đàn ông, bởi nếu không, sẽ chẳng ai thèm tìm đọc những điều họ viết, chẳng nhà phê bình văn học nào quan tâm và tác phẩm của họ như thế sẽ chìm ngay vào quên lãng. (Như trường hợp chị em nhà Bronte trong văn học Anh. Ba chị em, Charlotte, Emily và Anne—tác giả những thiên tiểu thuyết bất hủ Đỉnh gió hú, Jane Eyre, Agnes Grey mà cho đến ngày nay vẫn còn sức lôi cuốn người đọc—khi xuất bản sách đã phải ẩn giấu tên tuổi mình dưới những bút danh đàn ông: Currer, Ellis và Acton Bell. Bà Mary Anne Evans, một tiểu thuyết gia khác, cũng phải làm thế dưới bút danh George Eliot.)

Bước sang thế kỉ XX, sau những tranh đấu gay gắt, phong trào nữ quyền, manh nha khởi đi từ Mĩ và Anh quốc, bắt đầu le lói và dần dà lan toả khắp thế giới. Yêu cầu của nó là một khí quyển xã hội mới, trong đó nam nữ bình quyền. Nhưng quan trọng hơn, nó cố tẩy xoá những định kiến vốn sẵn hằn sâu trong nhận thức xã hội về giá trị, khả năng và vai trò của người phụ nữ. Nhưng vẫn theo lời Virginia Woolf thì vào thời của bà, phụ nữ vẫn chưa thực sự bình đẳng với phái nam. Trong trường đại học, phụ nữ không được quyền đặt chân vào thư viện tra cứu sách vở nếu không có thư giới thiệu của viện trưởng hay giáo sư phụ trách, thậm chí, trong sân trường, phụ nữ không được phép đi trên thảm cỏ mà phải cuốc bộ dọc theo lối đi trải sỏi. Trường học của nam sinh viên thì sung túc, thừa thãi, toàn giáo sư giỏi nhất nước về giảng dạy; còn các ngôi trường nữ thì gần như bị bỏ quên.

Châu Âu văn minh là như thế, còn Việt Nam mình thì sao?

Tôi không chối cãi sự thật là cho đến thời điểm hai thập kỉ 50 và 60 của thế kỉ XX, tại miền Nam Việt Nam, vẫn còn tình trạng nam nữ không bình quyền (bộ Luật Gia Đình do bà Trần Lệ Xuân đưa ra có lẽ chỉ là trò hề và, dù sao chăng nữa, nó chết theo anh em ông Diệm). Trong khi đó, trên bình diện văn học, không biết Nữ quyền luận đã xuất hiện ở Việt Nam lúc ấy hay chưa, nhưng sự hiện diện đông đảo của những cây bút nữ là hiện tượng đáng lưu ý. Nó mặc nhiên hiện hữu không như một thử thách hay thách đố nào mà như một sự kiện tự nhiên, không có không được. Nó chẳng cần ai lớn tiếng kêu gào bênh vực cho nó. Tiêu biểu nhất của thế hệ ấy có lẽ là những nhà văn, nhà thơ như Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Đỗ Phương Khanh, Hoàng Hương Trang, Minh Đức Hoài Trinh...rồi đến những người viết mạnh dạn hơn trong phong cách văn học, mới mẻ hơn trong loại hình, như Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Tuý Hồng, Nhã Ca, Hồng Khắc Kim Mai, Trần Thị NgH...Tất cả đã góp phần không nhỏ vào sức sống của văn học miền Nam lúc đó. Sức sống ấy truyền ra đến hải ngoại. Ngày nay không ai chối cãi sự kiện văn học Việt Nam hải ngoại sở dĩ còn tồn tại và có bản sắc riêng là nhờ một đội ngũ đông đảo những ngòi bút sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ phái nữ!

Thế hệ nào cũng có những người viết nữ xuất sắc bước ra ở hàng đầu. Phong cách sáng tạo của họ không những khiến độc giả giật mình mà các nhà văn, nhà thơ phái nam phải nhìn nhau ngẩn ngơ. Nó có tính công phá, nhất là ở phạm vi tình dục.

Bên trên tôi dùng từ “hiện tượng” để diễn tả sự xuất hiện của những người viết phái nữ trong văn học Việt Nam. Nói như thế là sai. Nó không phải là hiện tượng, nếu hiểu hiện tượng là nhận thức chủ quan, xuất hiện đột ngột, trong khoảnh khắc rồi tan biến. Kì thực, nó là con đường kế thừa. Kế thừa một truyền thống dân tộc luôn luôn quý trọng các tác phẩm văn học giá trị. Kế thừa một truyền thống văn chương không kì thị nam nữ. Kế thừa một Hồ Xuân Hương, một mình một cõi, đường bệ và ngạo nghễ, suốt chiều dài lịch sử trong khu vườn văn nghệ Việt Nam.

Và tôi chẳng bao giờ sợ bị lưu đày ra hoang đảo bởi lúc nào tôi cũng thủ sẵn tập thơ của vị nữ sĩ họ Hồ. [TYT]

XS
SM
MD
LG