Đường dẫn truy cập

Đến Singapore nhớ Cao Bá Quát


Lúc ở Singapore, tôi cứ hay nghĩ lan man đến Cao Bá Quát (1809?-1855).

Trong lịch sử văn học Việt Nam, hẳn có rất nhiều người kiêu ngạo. Người có tài nào mà lại không ít nhiều kiêu ngạo? Ai đó đã nói một câu rất thú vị: “Có một tật xấu mà không có người có tài nào mắc phải: đó là sự khiêm tốn.” Người tài trong lãnh vực văn học nghệ thuật lại càng khó khiêm tốn: Thế giới văn học nghệ thuật là thế giới của tiếng nói, của âm thanh, nghĩa là, của… tiếng gáy.

Nghe tiếng gáy, gà còn tức, huống gì là người.

Nhưng trong thế giới ấy, không có người nào mà sự kiêu ngạo lại biến thành giai thoại nhiều như là Cao Bá Quát.

Người khác, nếu có, có một hai chuyện là cùng. Còn Cao Bá Quát? Thật nhiều. Giai thoại một mình mình chiếm nửa số bồ chữ trong thiên hạ là của Cao Bá Quát. Giai thoại sửa thơ của vua, rồi lại làm thơ, nhân kể về vụ ẩu đả của các quan lại, xem cả quan lẫn vua đều là chó, cũng là của Cao Bá Quát. Giai thoại về việc ứng khẩu đọc thơ để trêu vua cũng lại là của Cao Bá Quát. Giai thoại về việc ví thơ của các ông hoàng bà chúa ở Huế với chiếc thuyền Nghệ An thối hinh mùi nước mắm cũng là của Cao Bá Quát, v.v…

Một người kiêu ngạo như vậy, sống dưới một xã hội hẹp hòi và chuyên chế như ở Việt Nam đầu thế kỷ 19, thật khó an thân. Không có gì khó ểu khi, cuối đời, Cao Bá Quát vùng lên kêu gọi dân chúng khởi nghĩa, để cuối cùng, bị chết một cách thảm khốc: cả dòng họ ông bị giết. Người cháu, nhà thơ Cao Bá Nhạ, trốn được gần mười năm, sau, vẫn bị bắt và vẫn bị giết.

Tuy nhiên, ở Singapore, tôi nghĩ đến Cao Bá Quát không phải vì cái tài hay cái sự kiêu ngạo, và cuối cùng, sự kết thúc bi thảm trong cuộc đời của ông, mà chủ yếu chỉ vì cách đây 165 năm, Cao Bá Quát cũng từng đặt chân lên đất Singapore!

Ông đến với tư cách khá hẩm hiu: dương trình hiệu lực, tức kiểu đoái công chuộc tội. Tội gì? Tội dùng muội đèn để chữa bài thi cho thí sinh. Chuyến đi kéo dài đến 7 tháng. Thời gian ấy mang lại khá nhiều hiểu biết và nhận thức mới mẻ cho Cao Bá Quát. Một trong những khám phá ấy là hình ảnh người phụ nữ Tây phương. Có thể nói Cao Bá Quát là một trong những nhà thơ Việt Nam đầu tiên viết về phụ nữ Tây phương. Mà lại viết một cách đầy âu yếm:

Cô gái phương Tây áo như tuyết,
Ngồi kề vai chồng dưới ánh nguyệt.
Nhìn sang thuyền ta đèn sáng choang,
Níu áo cùng chồng nói rối rít.
Uể oải cốc sữa biếng cầm tay.
Gió bể e chừng đêm lạnh đây !
Nhích lại còn đòi chồng đỡ dậy,
Tình ta ly biệt có ai hay !
(Hoá Dân dịch)

Từ những điều nhìn thấy ở Singapore, Cao Bá Quát nhận ra vị trí và diện mạo thực sự của văn hoá và rộng hơn, của dân tộc mình. Trong bài “Đề sát viện Bùi công ‘Yên Đài anh ngữ’ khúc hậu” do ông sáng tác sau chuyến đi, có mấy câu, đến nay đọc lại vẫn còn thấy thấm thía:

Nhai văn nhá chữ buồn ta,
Con giun còn biết đâu là cao sâu.
Tân Gia từ vượt con tầu,
Mới hay vũ trụ một bầu bao la.
Giật mình khi ở xó nhà...
(Trúc Khê dịch)

Lâu nay, theo tôi, hình như chúng ta chưa đánh giá đúng mức tầm vóc cái “giật mình” thiên tài ấy của Cao Bá Quát. Và hình như cũng không có mấy ai học được bài học của Cao Bá Quát. Cho nên, chúng ta đi, đi đến vô số quốc gia, từ châu Á đến châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, châu Phi, đến tận chân trời góc biển, vậy mà…

Vậy mà… người đi với người chưa đi có khi cũng chẳng khác nhau gì mấy!

Chán nhỉ?

XS
SM
MD
LG