Đường dẫn truy cập

Nữ ca sĩ Bonnie Raitt


Ca nhạc sĩ Hoa Kỳ không chỉ nổi tiếng về tài năng âm nhạc mà còn ý chí tranh đấu cho nhân quyền và chính trị, một trong những nghệ sĩ rất nổi tiếng trong lãnh vực này phải nhắc đến tên tuổi của Bonnie Raitt.

Bonnie Raitt tên thật là Bonnie Lynn Raitt, sinh năm 1949 tại thành phố Burbank miền Nam California. Burbank cũng là trung tâm của phim trường Hollywood và các công ty sản xuất điện ảnh. Ngay từ nhỏ Bonnie Raitt đã thụ hưởng gia tài âm nhạc do ông John Raitt để lại. Ông là ca sĩ trình diễn sân khấu Broadway nổi tiếng. Yêu thích cây đàn guitar từ nhỏ, lên trung học, cô đã tự đàn và hát trong các sinh hoạt nhà trường. Nhờ môi trường nghệ thuật và điện ảnh chung quanh, Bonnie Raitt dễ dàng nhận được những buổi thuê mướn hát bè trong các phòng thu ở Burbank.

Năm 1967 vào đại học với ngành nghiên cứu Phi Châu, một ngành rất hiếm người gốc Mỹ trắng theo đuổi, Bonnie Raitt nuôi mộng được du lịch Tanzania châu phi, đây cũng là nơi sản sinh ra phong trào dân chủ và thuyết xã hội. Ngay từ thuở thiếu thời, ngoài âm nhạc, Bonnie Raitt còn muốn tạo sự thay đổi về dân chủ cho các quốc gia chậm tiến. Năm 1970 trong lúc trình diễn ở New York chỉ hát phụ thôi nhưng phong cách của Bonnie Raitt đã được một ký giả của tờ Newsweek để ý và viết nhiều bài ca tụng. Từ đó hãng Warner Brothers muốn ký hợp đồng thu âm. Năm 1971 đĩa hát mang tên của chính mình ra đời trước sự sung sướng vì giấc mơ nay đã thành sự thật

BLUEBIRD


Nhạc phẩm đầu tay của Bonnie Raitt, BlueBird, chim xanh. Cũng từ đĩa hát này, công chúng bắt đầu biết đến tên tuổi của Bonni Raitt. Năm 1972 đĩa hát thứ nhì ra đời mang chủ đề Give It Up, hãy bỏ cuộc đi. Mặc dù được khen ngợi rất nhiều nhưng số đĩa bán vẫn còn chậm vì Bonnie phải cạnh tranh rất mạnh với nhiều ca sĩ danh tiếng khác.

LOVE HAS NO PRIDE

Nhạc phẩm Love has no pride, tình yêu không tự ái, ngụ ý bỏ hết mọi tự ái chỉ đề xin được người yêu tha thứ và trở lại, trích từ đĩa hát thứ nhì mang tên Give It Up, hãy bỏ cuộc đi, phát hành năm 1972. Một năm sau đó, năm 1973, Warner Brothers lại tung ra đĩa hát thứ ba cho cô mang tên Takin’ My Times, hay Cứ Từ Từ, một lần nữa dù được khen ngợi rất nhiều nhưng số bán lại chậm. Mãi đến năm 1975 khi được xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Rolling Stone, các đĩa hát mới và cũ của cô bắt đầu được tiêu thụ. Thời gian này, Bonnie Raitt thử nghiệm qua nhiều thể nhạc và được nhiều nhà sản xuất thực hiện.

I THOUGHT I WAS A CHILD

Nhạc phẩm I Thought I was a Child, tôi tưởng chỉ là đứa bé, trích từ đĩa Takin’ My Times, cứ từ từ năm 1973. Đến năm 1977 nhờ đĩa hát Sweet Forgiveness, hay sự tha thứ ngọt ngào, với bài hát Runaway, mặc dù không được giớ bình phẩm khen ngợi, nhưng ngược lại bài hát và đĩa hát này lại được giới thưởng ngoạn yêu chuộng với số bán tăng mạnh. Đến lúc này hợp đồng với Warner Brothers hết hạn và hãng Columbia Records muốn tranh lấy Bonnie Raitt về cho hãng. Nhờ thế Bonnie Raitt thắng được hợp đồng lớn để Warner Brothers giữ chân cô lại.

RUN AWAY

Nhạc phẩm run away, bỏ chạy, bài hát tạo sự thành công rực rỡ cho Bonnie Raitt nhưng cũng từ đó hình thành những vấn đề mà đa số các ca nhạc sĩ Hoa Kỳ gặp phải, đó là rượu và ma túy. Đầu thập niên 1980 là lúc Bonnie Raitt bắt đầu nghiện rượu và ma túy và phải liên tục nhập viện cai nghiện. Những có thể vì những khổ ải đó mà ý nguyện muốn tranh đấu chính trị trở lại mạnh mẽ hơn với cô. Năm 1085 cô tham gia các chương trình biểu diễn với hội ân xá quốc tế.

Năm 1987 sang thủ đô Moscow để hát cho hòa bình và thêm các buổi trình diễn vận động cứu trợ bệnh Aids. Sau 20 năm trình diễn, mãi đến năm 1989 Bonnie Raitt mới nhận được sự hưởng ứng hoàn toàn từ người ái mộ cho đến thành công về thương mãi với đĩa hát thứ 10, chủ đề Nick of Time, trong đường tơ kẽ tóc. Đĩa hát nhảy lên đầu bảng và thắng 3 giải Grammy

NICK OF TIME





XS
SM
MD
LG