Đường dẫn truy cập

AmCham quan ngại về tình trạng đình công và đề xuất giải pháp


Hồi tháng Năm vừa qua, phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam đã gửi một thư ngỏ đến Thủ tướng và các cơ quan chức năng Việt Nam bày tỏ sự quan ngại về tình trạng đình công lan tràn do lạm phát gây ra. Đại diện doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam đề xuất một số biện pháp nhằm phòng ngừa tình trạng đó có thể gây phương hại đến tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Phóng viên Lê Dân của đài VOA trao đổi cùng ông Thomas Siebert, Chủ tịch phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam, để tìm hiểu thêm về việc này.

VOA: Chào ông Thomas Siebert, trước tiên xin ông vui lòng giới thiệu sơ qua về phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Thomas Siebert: "Phòng Thương mại Hoa Kỳ về bản chất chỉ là đại diện cho doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam. Đó là tổ chức phi lợi nhuận, ngoài chính phủ và mục tiêu là thúc đẩy tăng trưởng thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Chúng tôi hiện có trên 650 doanh nghiệp thành viên và 1,200 đại diện doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam".

VOA: Được biết hôm 20 tháng Năm vừa qua, phòng Thương mại Hoa Kỳ có gửi một thư ngỏ đến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng các bộ ngành liên quan, bày tỏ quan ngại về tình hình đình công lan rộng, đôi khi có bạo động, tại những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Xin ông vui lòng cho biết thêm về lá thư đó.

Thomas Siebert: "Việc bùng ra những chuyện mà ta gọi là 'sự cố lao động', có cả đình công, đã làm những công ty nước ngoài phiền hà. Trong bức thư, chúng tôi nói về việc cả năm 2006 Việt Nam có khoảng 200 cuộc đình công trên khắp nước, vậy mà chỉ trong 4 tháng đầu năm nay đã có trên 200 vụ đình công, tức là xí nghiệp đóng cửa, hoạt động đình trệ. Hai trăm vụ đình công chỉ trong vòng mấy tháng đầu năm. Ta có thể thấy tình cảnh những xí nghiệp bỗng dưng mất sản lượng, đôi khi cả mấy ngày trời.

Thách đố lớn nhất chính là do cơ chế, không cho phép doanh nghiệp được biết nguyên do trước khi đình công xảy ra. Một điều nữa là Việt Nam có quy định tiến trình xúc tiến đình công, nhưng chẳng có ai tuân theo tiến trình đó cả. Trong nhiều trường hợp, các công ty chẳng biết gì cho tới khi công nhân đồng loạt bỏ việc.

Tôi không thể nêu tên, nhưng có ít nhất 3 công ty thành viên phòng Thương mại Hoa Kỳ làm ăn với rất nhiều xí nghiệp tại Việt Nam. Ba công ty này có trách nhiệm gián tiếp với hơn 100,000 công nhân, nên họ bị tác hại nặng nề do các vụ đình công đó gây ra."

VOA: Ông vừa nói thách đó lớn nhất là ở cơ chế, xin ông giải thích thêm.

Thomas Siebert: "Nếu ta xem luật Lao động nói thế nào về tiến trình cần thiết trước khi đình công, người ta có thể thấy là rất khó mà tuân thủ. Mặt khác, vấn đề chính là người ta không hiểu là luật Lao động nói gì về tiến trình đó, mà thật ra phải có sự can dự của cả phía lao động và giới quản lý doanh nghiệp.

Điều đáng nói ở đây là đình công hiện nay đã được giới công nhân xem là cách hay nhất để đòi tăng lương. Khi đình công và lương được tăng, thì họ sẽ coi đó là cách hữu hiệu nhất để tăng lương. Đó là nguyên do vì sao mà đình công tràn lan trong năm 2008 nhiều hơn trong các năm trước. Kết quả rõ nhất là tình hình lao động bất ổn đó sẽ khiến các doanh nghiệp bị tác hại bởi đình công như thế này, sẽ phải xem lại kế hoạch sản xuất của họ tại Việt Nam."

VOA: Ông xem mối đe dọa lớn nhất cho nền kinh tế Việt Nam do tình hình đình công gây ra?

Thomas Siebert: "Ðó không phải là sự đe dọa. Tôi chẳng đe dọa, nhưng một nhà quản lý doanh nghiệp cần phải xem xét các khả năng để quyết định đặt tài sản của họ vào nơi nào. Lực lượng lao động của Việt Nam là một tài sản quý giá, họ cần cù, thông minh và chăm chỉ, ai cũng biết như vậy, và đó là một trong những lý do chính để các công ty đầu tư ở đây.Nhưng sự bất ổn, bất định của sản xuất, sự bất định của công nhân, không biết họ có tiếp tục đi làm không, đình công có xảy ra không, đã khiến các công ty phải suy nghĩ."

VOA: Tình hình đình công cũng xảy ra tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài khác, như của Đài Loan, Nhật Bản. Ông có nghĩ là các phòng Thương Mại Nhật, Nam Triều Tiên, Australia ở Việt Nam cũng có những lo lắng tương tự như của phòng Thương mại Hoa Kỳ hay không?

Thomas Siebert: "Tôi không thể nói thay cho họ. Tôi không biết. Nhưng trong cương vị cá nhân, tôi nghĩ là có. Đối diện với cùng loại vấn đề như thế này, tôi đoán là các phòng Thương mại đó cũng chia sẻ cùng các quan ngại với chúng tôi."

VOA: Như vậy thì phòng Thương mại có đề xuất ý kiến hay giải pháp nào không thưa ông chủ tịch?

Thomas Siebert: " Chúng tôi đề nghị thành lập điều gọi là 'đối tác ba bên' gồm có chính quyền, công nhân và doanh nghiệp, để làm giảm thiểu tác hại của việc xí nghiệp ngưng hoạt động. Việc đầu tiên là một hội nghị dự trù tổ chức vào ngày 22 tháng 10 sắp tới để ba phía thảo luận về những giải pháp khả thi."

VOA: Câu hỏi cuối cùng chúng tôi muốn đặt ra, là thư ngỏ của phòng Thương mại Hoa Kỳ đã được văn phòng Thủ tướng trả lời chưa, thưa ông?

Thomas Siebert: "Không cần đích xác là từ văn phòng Thủ tướng. Chúng tôi đang làm việc với phòng Thương mại và Kỹ nghệ Việt Nam để xúc tiến hội nghị mà tôi vừa nhắc đến. Nhưng phía chính phủ Việt Nam họ cũng tự làm một số việc mà tôi không thể nói rõ cho quý vị biết. Nhưng tôi có thể nói rằng họ cũng rất quan tâm đến tình hình đó, rất cảnh giác về chuyện điều gì đã làm Việt Nam trở thành địa chỉ hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, và họ biết là họ phải làm điều gì đó."

VOA: Xin cám ơn ông Thomas Siebert, Chủ tịch phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam.



XS
SM
MD
LG