Đường dẫn truy cập

Tài năng trẻ nổi danh của Mỹ - Alicia Keys


Alicia Keys sinh năm 1980 trong khu Harlem ở New York, nơi tập trung cộng đồng người Mỹ gốc Phi châu và nổi danh là khu của người nghèo. Sinh ra từ một gia đình nghèo túng nhưng niềm đam mê âm nhạc đã không ngăn cản cô bé đi tìm đến cây đàn dương cầm năm lên 7 tuổi. Từ nhỏ Alicia Keys đã mê nhạc cổ điển, phần lớn các tác phẩm cô học là từ những nhạc sư nổi danh như Beethoven, Mozarta và nhất là Chopin. Cũng nhờ sự đam mê và vốn âm nhạc, năm 14 tuổi, Alicia Keys sáng tác nhạc phẩm đầu tay mang tên “Butterflyz”, Butterfly có nghĩa là con bướm nhưng trong đầu óc ngộ nghĩnh của cô bé, Alicia Keys đặt thêm chữ z ngoài sau, nghe bướm bay giống ruồi hoặc con ong. Khi tên tuổi của Alicia Keys bắt đầu được biết đến cô đã đưa vào đĩa hát đầu đời mang tên Songs in A Minor năm 2001.

BUTTERFLYZ

Nhạc phẩm Butterflyz, Alicia Keys sáng tác năm 14 tuổi và được đưa vào đĩa hát đầu tay năm 2001. Mặc dù là người gốc Phi châu nhưng mẹ của Alicia Keys là người Ý gốc Ái Nhĩ Lan nên Alicia Keys có nét đẹp rất ngọt ngào, phong cách của cô lúc hát ngồi trên cây dương cầm rất hấp dẫn và đóng góp thêm vào sự thành công của cô về sau nay. Năm 16 tuổi, Alicia Keys tốt nghiệp trung học từ trường chuyên đào tạo nghệ sĩ ở Manhattan. Dù được đại học Columbia nhận vào nhưng Alicia Keys quyết định theo đuổi âm nhạc toàn thời gian. Trong nỗ lực tìm hợp đồng với các hãng đĩa danh tiếng, Alicia Keys gặp được nhạc sĩ nổi danh Clive Davis và cô được hãng đãi Arista Records ký hợp đồng, nhưng chưa thành danh thì hãng Arista bị phá sản. Không mệt mỏi và nản lòng, Alicia Keys tiếp tục đi theo người đỡ đầu tinh thần là Clive Davis. Sau khi hãng Arista phá sản thì Clive Davis quyết định thành lập hãng đĩa riêng đặt tên là J Records. Lúc này Alicia Keys cho thu âm một vài bài hát và được Hollywood chọn làm nhạc nền cho các cuốn phim. Năm 2001 Alicia Keys dưới sự giúp đỡ của Clive Davis, cho phát hành đĩa hát đầu đời Songs in A Minor, hay Những Bài Hát Cung La Thứ với hầu hết là những sáng tác từ nhỏ của Alicia Keys. Ngay ngày đầu vừa mới ra mắt, đĩa hát bán được 50,000 đĩa. Một tuần sau bán được 235,000 đĩa. Sau này đĩa hát Songs in a Minor bán được hơn 10 triệu đĩa trên toàn thế giới và đưa tên tuổi của Alicia Keys trở thành tài năng trẻ nổi danh của Hoa Kỳ.

FALLIN

Nhạc phẩm Fallin qua tiếng hát của Alicia Keys, chữ Fallin theo thuật ngữ của Hoa Kỳ còn có nghĩa là yêu, I’m falling for you có nghĩa là tôi yêu em, hay tôi yêu anh, bài hát này Alicia Keys viết trong cung La Thứ và là bài hát khi vừa phát hành năm 2001 đã nhanh chóng phát thanh trên hầu hết các làn sóng ở Hoa Kỳ. Khi đĩa hát Songs in A Minor được phát hành thì nước Mỹ rơi vào vụ tấn công khủng bố 11 tháng 9 2001, Alicia Keys đã cùng đồng nghiệp hát trong chương trình đại nhạc hội tưởng niệm những người đã hy sinh. Sang năm 2002, Alicia Keys đoạt 5 giải Grammy Awards giành cho nghệ sĩ mới hay nhất và bài hát hay nhất trong năm là “Fallin”

YOU DON’T KNOW MY NAME

Nhạc phẩm You Don’t Know My Name, anh không biết tên tôi, trích từ CD “The Diary of Alicia Keys” Nhật Ký của Alicia Keys phát hành tháng 12 năm 2003. Ðây là đĩa hát được giới bình luật khen tặng rất nhiều và ngay lập tức nhảy lên đầu bảng xếp hạng nhạc hay của Hoa Kỳ, trong tuần lễ đầu tiên bán được 618 ngàn đĩa và cho đến hôm nay đĩa hát Nhật Ký của Alicia Keys bán hơn 8 triệu đĩa trên toàn thế giới. Năm 2004, Alicia Keys đoạt giải MTV Video Music Awards, giành cho những phim ca nhạc hay nhất trong năm với bài hát “If I Ain’t Got You” Nếu tôi không thể có anh.

IF I AIN’T GOT YOU

Bài hát Nếu tôi không thể có anh, qua tiếng hát của Alicia Keys, trong buổi trình diễn âm nhạc nhân dịp trao giải Grammy, Alicia Keys đã thắng thêm 4 giải Grammy giành cho giọng hát nữ thể loại Rhythm and Blues hay nhất và đĩa hát Rythm and Blues (R&B) hay nhất trong năm. Cũng vào thời gian này, xảy ra nhiều lời đồn đãi cho rằng Alicia Keys là một người đồng tính luyến ái, khiến cô nổi giận và phủ nhận mọi lời đồn đãi này. Trong các buổi phỏng vấn, Alicia Keys kêu gọi mọi người đừng cho cô là người đồng tính nữa, chính cô sau đó cũng phải thay đổi cách trang phục để tránh bị lầm lẫn giới tính một cách tai hại. Tháng 7 năm 2005, Alicia Keys thực hiện buổi thu âm Live hay sống trên sân khấu cùng với giàn quay phim và sau đó cho phát hành đĩa hát Unplugged. Ðĩa hát Unplugged gặt hái nhiều thành công với nhạc phẩm Unbreakable, “Không thể đánh vỡ”

UNBREAKABLE

Ngoài việc thu âm và sáng tác, Alicia Keys còn đóng góp nhiều trong các công tác thiện nguyện giúp trẻ em nghèo và trẻ em bị nhiễm bệnh AIDS. Cô từng góp mặt trong nhiều chương trình đại nhạc hội gây quĩ chống AIDS. Alicia Keys hiện chuẩn bị cho đĩa hát mới, có thể phát hành vào sang năm.

XS
SM
MD
LG