Đường dẫn truy cập

Sự xâm nhập của các đại công ty thuốc lá vào các thị trường Châu Á và những tác hại của thuốc lá đối với những người tiêu thụ


Trong tuần này các tin tức liên quan đến trận bão Kratina gây thiệt mạng cho nhiều người tại các tiểu bang của Hoa Kỳ dọc duyên hải vùng vịnh Mêhicô, đã làm lu mờ một tin đáng chú ý khác. Đó là một hiệp ước về bài trừ thuốc lá của Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã được phê chuẩn tại Trung Quốc, nơi mà mỗi năm có đến hơn một triệu người bị chết vì thuốc lá. Sau đây là một số chi tiết về sự xâm nhập của các đại công ty thuốc lá vào các thị trường châu Á, trong đó có Việt Nam, và những tác hại của loại sản phẩm này đối với những người tiêu thụ, qua các chi tiết do Trần Nam ghi nhận từ báo chí và các chuyên gia y tế ở Hoa Kỳ:

Hồi đầu tuần này Quốc Hội Trung Quốc đã phê chuẩn một hiệp ước của Tổ Chức Y Tế Thế Giới có tên là Công Ước Khung về Bài Trừ Thuốc Lá. Công ước này đã được Trung Quốc ký kết từ năm 2003 nhưng đến nay mới được Quốc Hội phê chuẩn.

Dù có rất ít người chú ý đến mẩu tin trên nhưng theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới thì việc phê chuẩn công ước này là một bước quan trọng, chẳng những tại Trung Quốc mà còn tại các nước châu Á khác, nhằm làm giảm bớt số người bị ung thư phổi và những chứng bệnh có liên quan đến thuốc lá.

Theo Hiệp Hội Bài Trừ Thuốc Lá của Trung Quốc thì mỗi năm có khoảng một triệu 200 ngàn người tại nước này bị thiệt mạng vì những chứng bệnh do thuốc lá gây ra, và theo ước tính của các chuyên gia thì con số này có thể lên đến 3 triệu người vào năm 2025 nếu không có những biện pháp ngăn chận.

Hút thuốc không những chỉ gây bệnh tật và tốn kém cho những người tiêu thụ mà còn là một gánh nặng cho chính quyền. Trong những năm giữa thập niên 1990, chính phủ Bắc Kinh đã phải chi tiêu 6 tỉ 500 triệu đô la mỗi năm để chăm sóc y tế cho những người bị bệnh tật do thuốc lá gây ra.

Dù vậy số người hút thuốc lá tại Trung Quốc vẫn không giảm sút.

Theo các số liệu được các tổ chức bài trừ thuốc lá công bố thì cứ mỗi 3 điếu thuốc được hút trên thế giới thì có một điếu tại Trung Quốc. Bắc Kinh ước tính rằng có đến 350 triệu người hút thuốc lá tại Hoa Lục, trong đó có hơn 60% là đàn ông và 3% là phụ nữ.

Mặc dù số phụ nữ hút thuốc tại Trung Quốc tương đối thấp so với nam giới tuy nhiên Tổ Chức Y Tế Thế Giới lưu ý rằng con số trẻ em và phụ nữ hút thuốc thuộc thành phần trẻ đang trên đà gia tăng.

Trong năm 2003 số thuốc lá bán ra tại Trung Quốc là 1 tỉ 797 triệu 950 ngàn điếu, khiến cho nước này trở thành một thị trường tiêu thụ thuốc lá lớn nhất trên thế giới.

Và đó là lý đã khiến cho các đại công ty thuốc lá nước ngoài chuyển mục tiêu làm ăn của họ sang Trung Quốc và các nước châu Á khác với hy vọng là khu vực này có thể giúp họ phục hồi thời kỳ vàng son của kỹ nghệ thuốc lá sau khi số người hút thuốc lá tại hầu hết các nước kỹ nghệ tiên tiến bị giảm sút, nhất là tại Hoa Kỳ.

Trong hàng chục năm qua, dù chưa ký một hiệp ước quốc tế về bài trừ thuốc lá nhưng Trung Quốc cũng đã thông qua những luật lệ cấm quang cáo thuốc lá trên các cơ quan truyền thông, và một số biện pháp hạn chế khác. Từ năm 1997, khoảng 300 thành phố tại Trung Quốc, trong đó có Bắc Kinh, đã trở những nơi được gọi là Các Thành Phố Không Có Quảng Cáo Thuốc Lá.

Tuy nhiên theo các nhà phân tích thì các luật lệ vừa kể có được thực thi một cách nghiêm minh hay không lại là một chuyện khác. Trong quá khứ, người ta thấy rằng việc sao chép lậu các sản phẩm trí tuệ của nước ngoài vẫn còn là phương cách làm ăn rất thịnh hành tại Hoa Lục, mặc dầu luật pháp không cho phép.

Vì vậy người ta tin rằng chính quyền Trung Quốc khó mà thực thi các luật lệ về bài trừ thuốc lá một cách có hiệu quả khi mà kỹ nghệ thuốc lá mang lại cho ngân sách của Trung Quốc những khoản tiền thuế khổng lồ, gần bằng 10% tổng số thu nhập của Nhà Nước.

Khó khăn của chính quyền, chẳng những tại Trung Quốc mà còn tại các nước có nhiều người hút thuốc, là có nên tiếp tục duy trì nguồn lợi vừa kể hay là phải hy sinh khoản thuế này để bảo vệ sức khỏe của dân chúng. Những cuộc nghiên cứu về những sự kiện xảy ra trong quá khứ cho thấy rằng trong dài hạn số tiền thuế thu được từ thuốc lá sẽ không đủ trang trải các chi phí về sức khỏe và những thiệt hại kinh tế do thuốc lá gây ra.

Trong khi đó tại Việt Nam, theo kết quả của một cuộc khảo sát được xem là sâu rộng nhất tại 2 thành phố lớn và 2 khu vực nông thôn trong năm một995, thì tỷ lệ hút thuốc tại Việt Nam là vào khoảng 38%, trong đó có đến 73% người hút thuốc là đàn ông và khoảng 4% là phụ nữ. Nếu tính về dân số thì tỉ lệ số người hút thuốc tại Việt Nam cũng tương đương với Trung Quốc, nhưng về giới tính thì Việt Nam là quốc gia có nhiều đàn ông hút thuốc nhất trên thế giới. Do đó Việt Nam đã trở thành một địa điểm mà các công ty thuốc lá nước ngoài tìm cách khai thác thị trường trong thời gian sớm nhất, chỉ sau Trung Quốc.

Sau khi lệnh cấm vận kinh tế của Hoa Kỳ áp đặt lên Việt Nam được bãi bỏ vào năm 1994, các công ty thuốc lá của Mỹ là một trong những công ty đầu tiên đến đầu tư tại Việt Nam. Cũng trong năm đó, các công ty nước ngoài đã được phép ký hợp đồng với các hãng xưởng địa phương để sản xuất các loại thuốc lá mang nhãn hiệu quốc tế.

Ngoài các công ty ngoại quốc, kỹ nghệ thuốc lá tại Việt Nam cũng gia tăng theo đà phát triển kinh tế.

Phần lớn các hoạt động của các cơ sở sản xuất thuốc lá nội địa đều nằm dưới sự điều hành của Tổ Hợp Thuốc Lá của Nhà Nước, gọi tắc là Vinataba. Tổ hợp này chiếm khoảng 72% thị trường thuốc lá trong nước, và cung cấp các loại thuốc lá giá rẻ cho đa số người tiêu thụ tại địa phương.

Mặc dù số người hút thuốc lá mang nhãn hiệu nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn ít, chỉ vào khoảng từ 15 đến 18% trên thị trường nội địa, vì giá cả quá đắc đối với lợi tức của người dân mà hầu hết chỉ vào khoảng một đô la một ngày, nhưng Việt Nam vẫn là mục tiêu chính các công ty thuốc lá nước ngoài muốn tìm kiếm những quốc gia có giá nhân công rẻ và đất đai phì nhiêu để trồng thuốc lá.

Các hãng thuốc lá ngoại quốc cũng hy vọng rằng với sự tăng trưởng kinh tế và nhiều công ty nước ngoài vào làm ăn tại Việt Nam, số người hút thuốc trong giới trẻ cũng theo đó mà gia tăng. Đây là điều mà Tổ chức Y Tế Thế Giới rất lo ngại, nhất là thành phần trẻ, dưới 15 tuổi, chiếm khoảng 30% dân số tại Việt Nam.

Vì tuổi thọ tại Việt Nam tương đối thấp, và các dữ kiện liên quan đến bệnh tật do thuốc lá gây ra không được thu thập đầy đủ cho nên người ta vẫn chưa biết một cách chắc chắn về những hậu quả của việc hút thuốc lá tại Việt Nam. Tuy nhiên theo tiên đoán của các nhà nghiên cứu thì sẽ có gần 7 triệu rưỡi người bị thiệt mạng vì những bệnh tật liên quan đến thuốc lá, mà nhiều nhất là đàn ông bị ung thư phổi, nếu không có biện pháp giảm bớt số người hút thuốc ngay từ bây giờ.

Trên thực tế chính phủ Việt Nam vẫn khuyến khích các hoạt động sản xuất thuốc lá vì các giới chức hữu trách xem đây như là một đóng góp quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế quốc gia, xét về mặt công ăn việc làm và ngân sách nhà nước, mặc dù số nhân công sử dụng trong việc trồng trọt thuốc lá và lợi nhuận từ thuốc lá vẫn còn rất nhỏ, khoảng 3% tổng số thu nhập của Nhà Nước, so với gần 10% của Trung Quốc.

Theo các nguồn tin trong nước thì Việt Nam sẽ dần dần gia tăng thuế thuốc lá lên đến 60% nhằm mục đích hạn chế mức tiêu thụ thuốc lá theo yêu cầu của Công Ước Bài Trừ Thuốc Lá của Tổ Chức Y Tế Thế Giới mà Việt Nam có thể sẽ ký kết trong năm nay.

Tin chi tiết cho hay, trong nỗ lực giảm thiểu số người hút thuốc lá, bắt đầu từ năm 2006, Việt Nam sẽ áp dụng 50% thuế trên các loại thuốc lá có đầu lọc và không đầu lọc, và từ năm 2007 cho đến 2010, mức thuế này sẽ tăng lên 60%. Thuế nhập khẩu thuốc lá vào Việt Nam cũng sẽ tăng lên 40% vào năm 2010. Ngoài ra thuốc lá cũng sẽ bị cấm bán trong các cửa hàng miễn thuế tại phi trường và các cửa ngỏ biên giới.

Cũng liên quan đến vấn đề bài trừ thuốc lá, trường Đại Học Johns Hopkins của Hoa Kỳ đã ký một thỏa ước với Hà Nội để thực hiện một dự án 400 ngàn đô la nhằm giảm bớt số người hút thuốc lá tại Việt Nam.

Với những biện pháp kể trên người ta hy vọng rằng số người hút thuốc tại Việt Nam sẽ giảm bớt cũng giống như các nước kỹ nghệ Tây phương hiện nay.

XS
SM
MD
LG